Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học - Công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học - Công nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Sự phát triển các thế hệ TI VI

Tuổi Trẻ Online - Thứ Sáu, 24/05/2013, 14:03
Quá trình phát triển và xu hướng của TV
Được phát minh vào thập niên 1920, TV luôn phát triển song hành với nhu cầu giải trí của con người. Và đến năm 2013, chúng ta đang được chứng kiến một bước phát triển ngoạn mục chưa từng có trong lịch sử với công nghệ TV tương tác thông minh độc đáo.  
Thông tin Infographic sau sẽ cho bạn cái nhìn tổng quát về sự phát triển của các thế hệ TV trong các giai đoạn từ đen trắng cho đến TV thông minh ngày nay:
PV

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Cô robot xinh đẹp Aiko ở Canada



Lê Trung và Aiko. nh: Dvice.





Đc báo thy bài này đáng chú ý, nói ti s c gng vươn lên ca người Vit nước ngoài và ý chí mun sng mt cuc đi giá tr, xin chép li đ mai mt đc li k hơn.
 Lê Trung, mt k sư người Canada gc Vit, sáng chế ra cô robot xinh đp và luôn vui v làm vic nhà sut 24/24h.

Robot có tên Aiko khong hơn 20 tui, có mt cơ th hoàn ho, gương mt xinh đp và mái tóc nâu sáng. Cô luôn vui v dn dp nhà ca và phc v Lê. K sư 33 tui sng ti thành ph Ontario ca Canada này đã tn 2 năm và 20.000 USD đ sáng chế ra cô gái trong mơ ca mình.
Ban đu anh đnh chế to mt loi robot giúp vic cho người già. Tuy nhiên, d án này sau đó đi chch hướng. Chuyn vi Aiko cũng ging như khi khoa hc đi mt vi sc đp vy“, anh cho biết. Aiko bt đu mt ngày bng vic đc báo cho Lê. H thường lái xe ra vùng nông thôn và Aiko luôn tr tài v phương hướng.
Lê cho biết mi quan h ca anh và Aiko vn chưa chuyn ti phòng ng, song mt vài mo có th biến cô thành mt đi tác tình dc. Aiko có th phn ng mi khi b cù hay đng chm. Cô có th nhn ra các gương mt và nói được 13.000 câu.
Lê đang mun mt nhà tài tr giúp anh vượt qua thách thc ln nht ca nhà sn xut robot là làm cho Aiko có th đi đng như con người. Mt khi Aiko tr nên hoàn ho, Lê mun bán nhng mu tương t đ giúp vic vt trong gia đình. Aiko không cn đi ngh, ăn ung hay ng và s làm vic 24 gi mi ngày. Cô y là người ph n hoàn ho“, Lê nói.
Robot Aiko cũng khiến nhiu người quan tâm. Ph n thường tìm cách nói chuyn vi cô y. Đàn ông thì mun đng chm và mi khi h đi quá đà, cô y s tát ngay“, Lê nói.

Mai Trang (theo Sun, Daily News)”

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Băng cháy (gas hydrate)


"Đá cháy". Methane, thoát ra bởi nhiệt, bốc cháy.
Inset: clathrate structure (University of Göttingen, GZG. Abt. Kristallographie).
Nguồn: Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ.
(Xem: http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%AAtan_hy%C4%91rat )

Mêtan hyđrat

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mêtan hyđrat hay còn gọi là nước đá cháy hay băng cháy là một dạng mê tan bị mắc kẹt trong một cấu trúc tinh thể nước, tạo thành một chất rắn tựa như băng[1].
Nó ổn định ở điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao, phần lớn được tìm thấy bên dưới lớp băng vĩnh cửu và những tầng địa chất sâu bên dưới lòng đại dương. Ban đầu. người ta nghĩ rằng nó chỉ xuất hiện ở khu vực ngoài Hệ mặt trời nơi có nhiệt độ thấp và nước đá là phổ biến, nhưng mêtan hyđrat sau đó lại được phát hiện trong trầm tích ở đáy đại dương của Trái Đất[2]. Trữ lượng mêtan dạng này theo ước tính dè dặt vào khoảng gấp hai lần trữ lượng các bon được tìm thấy trong tất cả các nhiên liệu hóa thạch được biết đến trên Trái Đất[3]. Nó cũng có thể được hình thành khi khai thác khí thiên nhiên và được xem là thủ phạm gây tắc đường ống dẫn khí và làm kẹt thiết bị.
Mêtan hyđrat là thành phần phổ biến của đại quyển biển nông, và chúng hiện diện cả trong các cấu trúc trầm tích sâu, và lộ ra trên đáy đại dương. Hydrat mêtan được cho là hình thức của di cư của khí từ dưới sâu dọc theo các đứt gãy địa chất, tiếp theo là sự kết tủa hay kết tinh khi các dòng khí trồi lên tiếp xúc với nước biển lạnh. Mêtan hyđrat cũng có mặt trong lõi băng sâu ở Nam Cực, và ghi lại một lịch sử về nồng độ khí mêtan trong khí quyển, có niên đại 800.000 năm trước[4]. Mêtan hydrat trong băng là một nguồn dữ liệu sơ cấp cho việc nghiên cứu ấm lên toàn cầu, cùng với ôxy và CO2.
-----------------------------------------------
04:37-20/03/2013 
Băng cháy và lời giải của Việt Nam
Theo Đại đoàn kết

Hoạt động khảo sát địa chất khoáng sản
ở vùng biển 100m nước
Việt Nam đang đẩy mạnh nghiên cứu về băng cháy (tên khoa học gas hydrate hoặc methan hydrate) trên vùng biển và thềm lục địa của mình, xác lập các luận cứ khoa học, định hướng cho thăm dò, đánh giá trữ lượng và lựa chọn công nghệ khai thác, tiến tới khai thác loại hình năng lượng mới này phục vụ phát triển KTXH và bảo vệ quyền lợi của mình trên Biển Đông.
Trao đổi về lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ này, ngày 15-3, TS. Vũ Trường Sơn – Giám đốc Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ TN&MT) - đơn vị có chức năng và nhiều kinh nghiệm điều tra địa chất khoáng sản biển, cho biết:

- Băng cháy là nguồn năng lượng mới được rất nhiều quốc gia quan tâm vì trữ lượng khổng lồ và khả năng tác động tới biến đổi khí hậu toàn cầu của nó. Khoáng sản năng lượng mới này dự báo lớn gấp 3 lần tổng tài nguyên năng lượng hóa thạch được biết đến trên toàn thế giới. Tuy nhiên nó cũng được xem là nguy cơ tiềm ẩn gây ra các thảm họa môi trường. Hiện nay đã có hơn 90 nước trên thế giới đang tiến hành các chương trình nghiên cứu điều tra băng cháy ở các mức độ khác nhau.

Mới đây nhất, ngày 12-3 vừa qua, Nhật Bản công bố nhóm nhà khoa học trên tàu khoan Chikyu đã lấy thành công khí đốt từ lớp methane hydrate nằm sâu 300m dưới lớp trầm tích ở đáy đại dương. Dùng một mũi khoan đặc biệt và phương pháp giải nén, đội khoa học đã biến methane hydrate ở bên dưới đáy biển thành khí metan và băng để đưa lên mặt đất. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu sự hoàn thiện về cả công nghệ điều tra, tìm kiếm và công nghệ khai thác loại hình năng lượng mới là băng cháy trên thế giới.

Việt Nam tiếp cận với băng cháy ra sao, thưa Tiến sĩ?

- Biển Việt Nam nằm trong khu vực Biển Đông, được Sở Địa chất Hoa Kỳ (USGS) đánh giá đứng hàng thứ 5 ở Châu Á về tiềm năng băng cháy. Dù chưa được trang bị đầy đủ thiết bị, công nghệ và còn thiếu nguồn nhân lực nghiên cứu, điều tra băng cháy, nhưng dựa vào các kết quả điều tra, khảo sát những năm qua về địa chất, cấu trúc - kiến tạo, địa mạo và kết quả tìm kiếm, thăm dò dầu khí cho thấy trên các vùng biển Việt Nam hội tụ nhiều yếu tố để có mặt băng cháy.

Bộ TN&MT từ hơn 5 năm trước đã tổ chức các hội nghị khoa học về triển vọng khí hydrat trên các vùng biển Việt Nam. Tổng cục Biển và Hải đảo VN cũng đã xây dựng chương trình nghiên cứu, đánh giá tiềm năng băng cháy ở ta, cử cán bộ tham gia các hội thảo quốc tế về băng cháy và khoáng sản biển sâu tại Nhật, Hàn Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Jamaica, ký biên bản ghi nhớ hợp tác nghiên cứu, điều tra địa chất - khoáng sản biển sâu với Hàn Quốc, Nga.

Để có thể tiến hành điều tra, nghiên cứu, cần sự đầu tư lớn về trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện, như các tàu nghiên cứu chuyên dụng, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, quản lý, tiếp thu công nghệ, trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các nước và tổ chức quốc tế. Nhiều tổ chức trên thế giới bày tỏ sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu băng cháy, đặc biệt trong đào tạo và phối hợp các hoạt động mang tính quốc tế.

Tiến sĩ có thể nói rõ hơn những vùng có triển vọng băng cháy tại nước ta?


- Trên vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam hội tụ đủ điều kiện hình thành băng cháy. Đó là độ sâu đáy biển, đặc điểm địa mạo, nhiệt độ đáy biển, trầm tích, nguồn khí, các dấu hiệu địa hóa, địa vật lý…, đặc biệt là cấu trúc địa chất, bối cảnh địa chất và một trong các điều kiện tiên quyết là sự xuất hiện của các bể chứa dầu khí Sông Hồng, Phú Khánh, Tư Chính - Vũng Mây, Nam Côn Sơn, các nhóm bể Hoàng Sa, Trường Sa.

Dựa vào kết quả nghiên cứu, thăm dò dầu khí, có thể phân Biển Đông Việt Nam ra 4 vùng dự báo để đánh giá tiềm năng băng cháy, đó là quần đảo Hoàng Sa và kế cận, Phú Khánh, Tư Chính – Vũng Mây và quần đảo Trường Sa và kế cận.

Thưa TS, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển đã có kết quả điều tra địa chất khoáng sản biển gì đáng quan tâm góp phần nghiên cứu, đánh giá tiềm năng băng cháy?

- Những dấu hiệu, điều kiện và tiền đề địa chất để hình thành băng cháy tại các bể trầm tích trên đòi hỏi phải sớm tiến hành nghiên cứu băng cháy để làm rõ tiềm năng, triển vọng loại hình khoáng sản có giá trị này. Các nước trên thế giới khi tiến hành điều tra băng cháy đều đã có số liệu điều tra cơ bản địa chất biển ở tỷ lệ 1/500.000 - 1/250.000.

Ở Việt Nam nhiều vùng biển còn chưa được điều tra cơ bản về địa chất khoáng sản. Cần nhanh chóng phủ kín điều tra cơ bản về địa chất trên các vùng biển Việt Nam trong thời gian tới theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc Dự án "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam”, thuộc Đề án tổng thể điều tra cơ bản TNMT biển (Đề án 47), nâng diện tích vùng biển được điều tra cơ bản ở tỷ lệ 1/500.000 lên 247.000km2 (chiếm khoảng 24% diện tích vùng biển Việt Nam).

Hiện Trung tâm đề xuất tiếp tục triển khai giai đoạn 2012 - 2020 của Đề án 47 Dự án điều tra cơ bản địa chất khoáng sản biển phủ kín vùng biển Việt Nam độ sâu đến 300m nước. Hy vọng các dự án điều tra địa chất khoáng sản vùng biển sâu tới đây tiếp tục cung cấp thêm các số liệu, cơ sở khoa học thực tế để nghiên cứu, đánh giá tiềm năng băng cháy của Việt Nam.

Trân trọng cảm ơn TS!

(Vinh Thuan - My dinh - 22/3/2013)

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

VỐN XÃ HỘI và VN


01:42-19/02/2013 
Vốn xã hội cho phát triển KH&CN Việt Nam
Vũ Cao Đàm

Xét theo bất kỳ quan niệm nào về vốn xã hội, chúng ta đều khó có cái nhìn thật sự khả quan đối với cái “vốn xã hội” cho KH&CN ở nước ta trên vài khía cạnh của vốn xã hội mà tôi cảm thấy đáng quan tâm nhất. Đó là “mạng lưới bền vững”, “các chuẩn mực” và “sự hợp tác”.


Tóm lược một số quan niệm về vốn xã hội

Chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm trên mạng những nội dung khá phong phú về “Vốn xã hội”.

Khái niệm này hiện được nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm, chẳng hạn, Chính trị học (Political Science), Chính sách học (Policy Science), Xã hội học, Lý thuyết phát triển, thậm chí Kinh tế học,... Tùy lúc mà vốn xã hội được bàn theo tiếp cận nào. Trong bài này tôi xin được bàn về vốn xã hội theo hướng tiếp cận Chính sách học, một lĩnh vực nghiên cứu được xem là nơi hội tụ của Chính trị học và Xã hội học.

Khái niệm “vốn xã hội” (social capital) được một nhà nghiên cứu người Mỹ, Lyda Judson Hanifan (1879-1932), đề cập lần đầu tiên vào năm 1916 trong bài báo "The Rural School and Rural Life". West Virginia School Journal [1].

Trong bài viết này, Hanifan quan niệm vốn xã hội là “những thực thể hữu hình (tangible substance), có tác dụng lên hầu hết hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của con người”.

Từ giữa thế kỷ XX đến nay, nghiên cứu về vốn xã hội được nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm. Họ đã đưa ra những quan niệm rất đa dạng về “vốn xã hội”, như tương tác xã hội (Jane Jacob, 1961); sự tin cậy (Cohen và Prusak, 2001); sự hợp tác giữa các thành viên trong xã hội (Robert D. Putnam 1993; 2000); Nhà xã hội học người Pháp Bourdieu[2] xem vốn xã hội là một mạng lưới xã hội bền vững (réseau durable), ít nhiều được thiết chế hóa, bao gồm vốn kinh tế (capital économique), vốn văn hóa (capital culturel), và vốn biểu tượng (capital symbolique).

Năm 1990, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman[3] đưa ra một cách hiểu vốn xã hội bao gồm: các mạng liên kết xã hội, các chuẩn mực (norms), và sự tin cậy trong xã hội (social trust).

Năm 1995, nhà chính trị học Robert Putnam[4] đã nhắc lại ý tưởng của Coleman và đưa ra quan niệm vốn xã hội là “những phương tiện làm gia tăng hiệu quả hoạt động của cá nhân.

Còn nhà nghiên cứu chính trị học người Mỹ gốc Nhật Francis Fukuyama[5] lại nhấn mạnh hơn đến yếu tố “chuẩn mực xã hội”.

Qua phân tích ý kiến đa dạng của các nhà nghiên cứu vừa nêu trên đây, chúng ta có thể hình dung, vốn xã hội chính là mạng lưới liên kết giữa con người, nhưng không phải là con người trong tập hợp những con người với tư cách là một nguồn lực hữu hình (tangible resource), càng không phải là con người hữu hình tách biệt nhau trong xã hội, mà là con người được kết tinh và hội tụ những giá trị tinh thần trong một mạng lưới xã hội xác định, một truyền thống văn hóa cụ thể nào đó, những con người hòa trong cộng đồng hình thành một thứ nguồn lực vô hình (intangible resource) làm nên sức mạnh cho sự phát triển xã hội, trong đó có sự phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN).

Trong hoạt động KH&CN, những nguồn lực vô hình này có thể kể tên được. Đó là mạng liên kết bền vững giữa các nhà nghiên cứu, sự tin cậy trong hoạt động KH&CN, các chuẩn mực đạo đức của cộng đồng KH&CN, các thang giá trị của KH&CN trong xã hội, các quan hệ hợp tác trong hoạt động KH&CN, v.v...

Trong một dự án do EU tài trợ, Giáo sư J. Annerstedt (Đan Mạch) đã cố gắng đưa ra một số chỉ báo để đánh giá tài sản vô hình (vốn xã hội), và đã có một vài tọa đàm tại Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN thuộc Bộ KH&CN.

Vốn xã hội trong KH&CN được xem xét trên ba cấp độ: (1) Cấp độ vi mô (micro-level, cá nhân), (2) Cấp độ trung mô (meso-level, các nhóm xã hội), và (3) Cấp độ vĩ mô (macro-level, quốc gia và quốc tế). Sự tương tác giữa các cấp độ, cụ thể là giữa các cá nhân với các nhóm xã hội, với quốc gia và quốc tế sẽ làm cho vốn xã hội “giầu lên” hoặc “nghèo đi”, và hệ quả tất yếu là sẽ làm cho nguồn vốn xã hội phát triển, suy thoái hoặc cạn kiệt.

Xã hội càng kém phát triển, bộ máy quản lý càng độc đoán quan liêu, bất bình đẳng xã hội càng lớn, tham nhũng càng nghiêm trọng, vai trò lũng đoạn của các nhóm lợi ích trong xã hội càng lớn lên, thì các yếu tố cấu thành nguồn vốn xã hội, như “lòng tin”, “quan hệ hợp tác”, các “chuẩn mực” càng bị xói mòn và bị triệt phá đến suy kiệt.

Vốn xã hội cho phát triển KH&CN trong các xã hội

Chúng ta thường nghe nói về thời đại của sự phát triển vũ bão về KH&CN, thời đại của công nghệ thông tin, mạng toàn cầu, vật liệu mới, robot hóa,... Nhưng quan sát gần một thế kỷ vừa qua, tính từ khi xuất hiện Liên Xô (1917) và khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa (XHCN), hầu như chúng ta chưa nghe thấy có một ngành khoa học mới nào được khai sinh từ các quốc gia XHCN. Nói chính xác hơn, số lĩnh vực nghiên cứu mới được hình thành từ khối các nước XHCN có thể đếm được trên đầu ngón tay. Chẳng hạn, Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử, Chủ nghĩa xã hội khoa học,… nhưng những lĩnh vực nghiên cứu này lại không đóng vai trò một chỉ dấu bước ngoặt nào trong hệ thống KH&CN của thế giới. Trường hợp Lý thuyết sáng chế TRIZ (tiếng Nga: Теория Решения Изобретательских Задач; tiếng Anh: Theory of Inventive Problem Solving) do Altshuller đề xướng từ một quốc gia XHCN (Liên Xô) là một trường hợp cực kỳ hiếm hoi trong lịch sử khoa học của thế giới.

Không những vậy, mà những lĩnh vực KH&CN mới, khi được du nhập vào Liên Xô và các nước XHCN còn bị phê phán, thậm chí bị đàn áp, không chỉ các trường phái triết học không-marxist và khoa học xã hội, như Phân tâm học, Xã hội học, Tâm lý học hiện đại, mà cả các lĩnh vực không phải khoa học xã hội, như Di truyền học, Sinh lý học hiện đại, Lý thuyết Hệ thống, Điều khiển học, Toán Kinh tế, v.v…

Vì sao lại xuất hiện tình thế đó? Phải chăng đó là vấn đề có quan hệ tới vốn xã hội? Khi tìm được lời giải đáp cho câu hỏi này, thì chắc chắn sẽ tìm được con đường giải tỏa những rào cản cho sự phát triển khoa học của nước ta.

Việt Nam có thể và rút được rất nhiều bài học bài học về những thiết chế đã dẫn đến suy kiệt vốn xã hội cho sự phát triển KH&CN ở Liên Xô và các nước vốn là XHCN?

Tôi nhắc lại một vài câu chuyện thú vị về vấn đề này trong cuốn Tin học và Chủ nghĩa xã hội của Moseev[6], đã được Viện Thông tin Khoa học Xã hội dịch ra tiếng Việt và xuất bản năm 1987:

Câu chuyện thứ nhất, Moseev kể rằng, vào thập niên 1960, mỗi khi đi dự các hội nghị quốc tế về tin học, được nghe các nhà nghiên cứu khối tư bản tham luận, thì ông đánh giá họ nói ngô nghê như trẻ con nói, nhưng sang giữa thập niên 1970, khi đi dự các hội thảo quốc tế về tin học, thì chính ông lại ngu ngơ chẳng hiểu mô tê gì cả. Ông đánh giá, trình độ tin học của Liên Xô đã thụt lùi sau thế giới có lẽ đến vài ba thập niên. Giải thích vì sao như vậy, Moseev cho rằng, sở dĩ Liên Xô xuất hiện vai trò tiên phong về tin học, là do nhu cầu chinh phục vũ trụ đã đi trước Mỹ, nhưng sau đó bị tụt hậu, là vì nhu cầu tin học phục vụ phát triển kinh tế thị trường đã làm cho Mỹ và thế giới tư bản bỏ xa Liên Xô.

Câu chuyện thứ hai, cũng câu chuyện của chính Moseev, người lãnh đạo Trung tâm Kỹ thuật tính toán thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô áp dụng tin học vào hệ thống giao thông Moskva. Kết quả sau ba tháng, thì cả những chuyên gia giỏi và những tên trộm cắp đều đi khỏi Sở Giao thông, vì lẽ tin học đã tấn công vào hệ thống tham nhũng và trộm cắp của công ty này, một nguồn lợi bất chính không chỉ cần cho bọn trộm cắp, mà cần cả cho các nguồn thu nhập để nuôi sống cả những người lương thiện trong các công ty của sở này.

***

Cái thiết chế về “sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” của Đảng Cộng sản Liên Xô đã dẫn đến hình thành các thế lực học phiệt. Đó là những người vốn là các nhà khoa học nhưng được cơ cấu vào các cấp ủy đảng, và một số không ít trong bọn họ trở thành những tên trùm học phiệt, sử dụng quyền lực ngoài khoa học để chèn ép và kìm hãm những người làm khoa học nghiêm túc, vì họ sợ những người này sẽ làm lu mở vai trò của họ trong mạng lưới học phiệt cắm rế từ Ban chấp hành Trung ương đến các chi bộ đảng. Vụ án di truyền học do Lysenko phát động, chỉ sau 3 tháng đã dẫn tới kết quả là loại trừ Vavilov khỏi vị trí viện trưởng viện Di truyền học; từ phê phán đến bỏ tù và xử bắn trên 5000 nhà sinh học xô-viết là một bài học cay đắng nhất thế kỷ XX về vai trò của giới học phiệt triệt phá cái vốn xã hội của nền sinh học đã từng đi tiên phong của đất nước xô-viết.

Một hệ chuẩn mực về KH&CN khác lạ 

Một số nhà lãnh đạo, và cả giới nghiên cứu đã tốn nhiều giấy mực để bàn về chính sách “trọng dụng” và “đãi ngộ” các nhà nghiên cứu; thành lập các tổ chức khoa học “có tầm vóc”, với những ưu đãi rất cao về cung cấp các nguồn lực, xem đó là biện pháp để phát triển mạnh mẽ KH&CN của nước ta. Nhiều nhà lãnh đạo các viện và học viện trực thuộc Chính phủ hoặc trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng đã được “cơ cấu” vào những vị trí rất cao trong hệ thống quyền lực của Đảng, Quốc hội và Chính phủ.

Liệt kê những sự kiện đó cho thấy, không thể nói Đảng và Nhà nước không quan tâm đến KH&CN. Nhưng vì sao KH&CN nước ta chưa chiếm một vị trí nào trong nền KH&CN của thế giới?

Tôi đã thực hiện một số cuộc phỏng vấn và trao đổi với các nhà nghiên cứu, từ người có địa vị rất quan trọng trong hệ thống quyền lực khoa học đến những nhân viên bình thường nhất trong giới nghiên cứu, và nhận ra, dù xét theo bất kỳ quan niệm nào về vốn xã hội, chúng ta đều khó có cái nhìn thật sự khả quan đối với cái “vốn xã hội” cho KH&CN ở nước ta trên vài khía cạnh của vốn xã hội mà tôi cảm thấy đáng quan tâm nhất. Đó là “mạng lưới bền vững” (theo Bourdieu), “các chuẩn mực” (theo Fukuyama) và “sự hợp tác” (theo Putnam)

Xét về chuẩn mực của KH&CN, Việt Nam có một hệ chuẩn mực về KH&CN khác lạ so với thế giới. Chúng ta có thể điểm vài chuẩn mực:

- Các viện nghiên cứu được phân chia đẳng cấp theo thang bậc hành chính: viện ngang cấp Bộ, viện ngang cấp cục/vụ, từ đây có các viện trưởng hàm Bộ trưởng, hàm vụ trưởng và các loại hàm khác. Các nhà lãnh đạo khoa học này ngồi phán xét khoa học từ thang bậc hành chính của họ.

- Giá trị khoa học của đề tài được đánh giá… cũng theo “đẳng cấp” của đề tài: Đề tài “cấp” nhà nước được đánh giá cao nhất, rồi đến đề tài “cấp” bộ và cuối cùng là đề tài “cấp” cơ sở. Không có thứ hạng nào cho các đề tài “cấp” cá nhân, kiểu như công trình Tư bản luận của Marx, hay Lý thuyết tương đối của Einstein.

- Các “giá trị” bị hành chính hóa này của khoa học lại được xem là tiêu chuẩn để cho điểm xét “phong” giáo sư, một thứ “hàm” để vinh danh, thay vì giáo sư là một chức vụ được bổ nhiệm để lãnh đạo khoa học.

- Rồi đến các danh hiệu “Nhà giáo ưu tú”, “Nhà giáo nhân dân” được gắn các tiêu chuẩn “Phải là chiến sỹ thi đua 5 năm liên tục, trong đó có 2 năm là chiến sỹ thi đua cấp Bộ”. Còn chiến sỹ thi đua là gì, thì giới nghiên cứu đều hiểu rất rõ: nó có quá ít mối liên hệ với những nỗ lực chuyên môn của người nghiên cứu.

Các chuẩn mực giá trị ảo này đã đẩy giới nghiên cứu chạy theo những thứ không phải khoa học. “Mạng lưới bền vững” bị phá vỡ vì sự can thiệp của những giá trị ảo này.

***

Chúng ta được nghe nhiều ý kiến phê phán những người được trao quyền lãnh đạo các viện trực thuộc Chính phủ, cho rằng các viện mà họ thành lập đã không làm được nhiệm vụ đẩy KH&CN Việt Nam lên đỉnh cao như mong muốn. Tuy nhiên, nghĩ công bằng hơn, chúng ta cần nhìn vào cái vốn xã hội đã và đang nuôi dưỡng sự tồn tại và phát triển của các viện này. Chưa xét vốn xã hội, chỉ xét riêng về cái vốn tài chính mà một viện mới được thành lập: Viện này được nhận 600 tỉ VNĐ, tức 30 triệu USD trong 10 năm, tức 3 triệu USD mỗi năm, thì cũng đã quá khiêm nhường, con số đó mới chỉ bằng 1/10 kinh phí của một Khoa Hóa của Đại học Lund (Thụy Điển), cộng với cái vốn xã hội quá hạn hẹp, chắc không bằng 1/1000 của Đại học Lund, thì chúng ta có thể tạm đưa ra một dự báo rằng số phận của Viện này chắc sẽ không lạc quan hơn các viện trực thuộc Chính phủ được thành lập từ đầu thập niên 1960-1970 đến nay.

So với các tổ chức KH&CN bình thường trong xã hội, các viện và học viện trực thuộc BCHTƯ và Chính phủ có những vị trí rất cao trong hệ thống quyền lực, đã nhận được những đặc quyền rất cao về điều kiện vật chất và tài chính. Nhưng vì sao họ vẫn chưa đóng được vai trò đẩy nền KH&CN Việt Nam lên tương xứng với mong đợi của cộng đồng KH&CN. Tôi cho rằng, các viện và học viện này thiếu một thứ rất quan trọng: Thiết chế tự trị trong khoa học. Họ, cùng với cộng đồng KH&CN Việt Nam vẫn đi theo đường mòn “Xin – Cho” các chương trình/đề tài “cấp” càng cao càng tốt, mà đỉnh cao nhất là “cấp” Nhà nước.

Thiết chế của một “Nhà nước độc tôn làm khoa học”, với các hình thức đa dạng “Nhà nước mở thầu dự án”, “Nhà nước giao nhiệm vụ”, “Nhà nước nghiệm thu công trình”, … một số đồng nghiệp còn mong muốn được “Nhà nước mua sản phẩm” … Thật ra, làm gì có “Ông Nhà nước nào” cần thiết “sở hữu” cái sản phẩm khoa học của chúng ta. Cái “Ông Nhà nước ấy” là rất trừu tượng. Chúng ta, các thành viên trong xã hội, tự mình hãy ý thức vị trí của mình trước khoa học, và hãy để cho Nhà nước giữ vai trò người nhạc trưởng, người supervisor, với sứ mệnh quản lý vĩ mô cái hoạt động KH&CN của mọi thành viên trong xã hội. Còn xem “Ông Nhà nước” là một ông chủ trừu tượng, để “Ông Nhà nước” trực tiếp nhúng tay vào mọi hoạt động KH&CN, tự biến mình thành những “thần dân” được “trọng dụng” và được “đãi ngộ”, chính là đang làm suy yếu cái vốn xã hội cho sự phát triển KH&CN Việt Nam.

[2] Pierre Bourdieu, Questions de sociologie, Paris, Ed. Minuit, 1984.
[3] James Coleman, Foundations of Social Theory, Cambridge (Massachusetts), Harvard University Press, 1990
[4] Robert Putnam, “Bowling alone : America‘s declining social capital”, Journal of Democracy, số 6 (1), 1995
[5] Francis Fukuyama, “Social capital and civil society”, IMF Working paper WP/2000/74