Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật - Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật - Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2017

Chém gió - Truyện ngắn : Đình Tài






CHÉM GIÓ
                                                     
Nguyễn Đình Tài

- Tôi đố các cụ dân nước nào sống lâu nhất?

- Ôi dào, nước Nhật, ai chả biết.

- Cả dân Bắc Âu nữa, hội ấy toàn sống ngoài tám mươi.

- Thế các cụ có biết tại sao con người  thường chỉ sống  đến ngưỡng tám mươi không?

- Tại trời!




- Chuẩn! Tại trời cả thôi. Chuyện là thế này, các cụ chịu khó nghe một tí nhé. Khi tạo ra thế giới và muôn vật, lúc đầu Chúa Trời nặn ra con Trâu và bảo “Trâu,  mi xuống hạ giới cày, bừa, làm lụng nuôi sống con Người. Ta cho mi sống 50 tuổi!”, nghe thế, Trâu đáp “Bẩm Thượng đế, xuống đấy sống lao lực như thế, con chỉ xin sống 20 năm, trả lại Ngài 30 năm.” “Thôi được, Ta đồng ý”. Vậy là từ đó Trâu thường sống đến 20 tuổi rồi già chết hoặc người thịt chết. Tiếp theo, Chúa Trời nặn con Chó và bảo “Chó, mi xuống hạ giới ăn cơm thừa, canh cặn, trông nhà, giữ cửa cho Người. Ta cho mi sống 20 tuổi”. Chó đáp “Bẩm Chúa Trời, làm cái việc khổ sở, hèn hạ ấy cũng chẳng sung sướng gì, con chỉ xin 10 năm sống, trả lại Ngài 10 năm”. “OK, Ta chuẩn y.” Tiếp đó, Chúa Trời nặn con Khỉ. “Khỉ này, ngươi xuống hạ giới chuyên nhảy nhót,  hầu hạ, mua vui cho Người, Ta cho ngươi sống 40 năm”. Ngẫm nghĩ một lúc, khỉ bẩm “Mua vui lâu cũng chẳng hay hớm gì, cực nhọc lắm, con chỉ xin Chúa Trời 20 năm thôi, còn 20 năm con trả.”. “All right, vậy thì đừng có tiếc”. Cuối cùng, Chúa Trời nặn ra con Người, một sinh vật cực đẹp và bảo “Này Người, ngươi sẽ làm bá chủ hạ giới, ăn, chơi, sung sướng, không phải làm gì cả, Ta cho ngươi sống 20 tuổi.” Nghe thế, Người chồm lên “Ấy, ấy, không được, sao lại chỉ có 20 năm?”. “Thế ngươi muốn thế nào!?”. “Bẩm Chúa Trời, đơn giản là thế này thôi: Ngài cho con xin 30 năm của thằng Trâu, 10 năm của thằng Chó và 20 năm của thằng Khỉ đã trả lại Ngài, cộng với 20 năm của con, vị chi là 80 năm được chứ!”. Chần chừ một lúc, Chúa Trời đáp “OK, nhưng sau này sướng, khổ đừng gọi Ta!”. 




- Chuyện có thế thôi à? Hoang đường!

- Lão này nghe mà không hiểu ẩn ý à? Nghe đây, sống 80 năm, nhưng chỉ có 20 năm đầu mới thật là người: sung sướng,  vui chơi, nhảy múa, không phải lo lắng gì; 30 năm lấy của con trâu là 30 năm khốn khổ “đi cày” trả nợ, hùng hục làm như trâu; 10 năm tiếp lấy của con Chó, khi đã về già, ăn cơm thừa canh cặn của lũ con, trông nhà, giữ cửa cho chúng nó đi làm đi chơi, nhục như chó; 20 năm cuối đời, lấy phần của con Khỉ, thì là lúc làm hề, làm trò khỉ, mua vui, giỗ dành cháu nội, cháu ngoại “măm măm”. Cho nên, có   sống được 80 năm thì chỉ có 20 năm đầu mới thật là người thôi, còn 60 năm sau là đời con vật.

- Tóm lại, chúng mình đang ở giai đoạn khỉ đột.

- Khỉ không đuôi mới đúng.

- Không đuôi là thế nào!? Con đực vẫn còn tý đuôi vắt vẻo phía trước.




- Thế các cụ có biết tại sao đàn bà thọ  hơn đàn ông không?

- Vì các bố  phá đời, ăn uống, chơi bời vô độ, đến vua chúa sướng thế mà chẳng mấy vị thọ được đến thất thập nữa là. Còn các bà thì biết kiềm chế, lo cho sức khỏe hơn, nên thọ  hơn.

- Cũng chỉ đúng một phần. Các cụ có biết tại sao rùa, rắn sống lâu không? Vì chúng nó lâu lâu lột xác, thay máu. Đàn bà cũng thế lâu lâu đẻ một đứa con, thay máu, thậm chí thay máu hàng tháng, nên sống lâu hơn cánh ta.

- Nghe cũng có lý, nhưng tôi biết một nguyên nhân khác.

- Là gì?

- Đàn bà sống lâu hơn nhờ có máu ghen! Họ lo chết trước thì các đức ông chồng “xổng chuồng”, đi léng phéng, nên tìm mọi cách sống dai hơn để giám sát.

- Cụ nói thế nào ấy, khối bà chồng chết rồi mà vẫn ghen. Có bà, mấy năm đầu giỗ chồng, mua cả núi vàng mã, nào tiền đồng, tiền đô, vàng, biệt thự, xe con,  máy tính, TV, điều hòa, tủ lạnh, mobile phone,…, sau có người nhắc bà mua nhiều thế, ở dưới ấy, ông ta đem cho gái, cặp bồ thì khốn.

- Vậy nên, bây giờ bà ấy  chỉ cúng chay ông nhà, không gửi gì xuống, cho ông ấy hết đường chứ gì!?

- Tôi nghiệp cho các bọ già. Tôi có ông bạn, có lần cùng bà lão và thằng cháu nội 15 tuổi đi nghỉ mát, phơi nắng ngoài bãi biển. Mỗi lần có một em Bikini đi ngang, cả thằng bé và ông già mắt sáng lên, ngoái cổ ngó theo. Bà già ngoảnh sang ông lão nói “Ông thấy không, thằng cháu chúng mình đã trưởng thành, ra dáng đàn ông rồi đấy!”. “Ừ, đúng”. Ông già tán thưởng. “Ừ ừ đúng đúng cái gì! Già khú đế rồi mà như thằng nhãi ranh, thấy gái cứ nhấp nha nhấp nhổm, rõ ghét!”. “Khổ tôi chưa, đã phải ăn kiêng rồi mà đến xem thực đơn cũng bị cấm” Ông lão làu bàu.




- Hai cụ ấy còn cặp kè được với cháu con còn là may, nhiều cụ cô đơn, dặt dẹo còn phải vào trại dưỡng lão mới khổ.

- Cụ nhắc đến trại dưỡng lão làm tôi nhớ đến chuyện ở một nhà dưỡng lão nọ, có hai bà lão ở cùng phòng với nhau. Một lần, sau bữa ăn tối, một bà bảo bà kia “Hôm nay đừng chốt cửa, tôi đi dạo với ông lão phòng bên đến trước 10 giờ đêm tôi về nhé.” Vậy mà, mới đi chưa được một giờ đồng hồ, bà ta đã trở về với vẻ mặt bực  tức và nói “Tôi vừa tát cho lão mấy cái”. “Sao thế?” - Bà bạn hỏi, - “Lão ấy chạy làng à, hay sàm sỡ bà quá giới hạn?”. “Đâu có, chuyện là, ngồi ghế đá được 10 phút, thấy mắt lão nhắm tịt, mồm há hốc, nước dãi chảy ròng ròng, đầu gật gật. Tôi sợ lão bị hôn mê nên tát vào má mấy cái cho tỉnh lại. Hóa ra, ngồi cạnh người yêu mà lão ngủ gật, chán chưa.”

- Buồn cười nhỉ, đúng là tình yêu “thời răng rụng”.

- Chưa hết, tỉnh ngủ, lão rút trong túi ra một cái nhẫn inox, quỳ trước mặt tôi và lắp bắp “Anh cầu xin em hai điều.” “Được ông nói đi!”. “Một là, xin em hãy là vợ anh, em hãy đưa ngón tay cho anh lồng chiếc nhẫn thời chiến trường vào”. “Ông nói nốt điều thứ hai đi!” – Tôi đã bắt đầu điên tiết. “Điều thứ hai là xin em hãy đỡ anh đứng dậy”. ” Đấy, bà bảo có chán đời không!?”




- Tội nghiệp bố già si tình, chẳng bù, tôi có ông bạn đại gia, bảy mươi tuổi, vẫn phong độ, vừa kiếm được một baby trẻ măng, xinh như mộng.

- Chắc cụ ấy phải lừa, nói với hot girl là mình U 50 nhỉ?

- Ngược lại thì có, lão ấy khai tăng, nói ngoài 80 nó mới chịu lấy đấy!

- Này, chém thế đủ rồi các cụ! Bây giờ, cụ nào rỗi ta vào bệnh viện thăm lão ga lăng Bùi Đại Cấn đi!

- Lão làm sao mà phải nằm viện? Mới tuần trước còn đi dancing với các em tuổi “xồn xồn” ở Câu lạc bộ ACCC  (Ăn Chơi Chờ Chết) cơ mà?

- Đấy là chuyện tuần trước. Mới cách đây ba hôm, nhân đón bà vợ yêu đi thăm mẹ ở Sài Gòn về và mừng sinh nhật bả luôn, lão chuẩn bị một mâm thịnh soạn, có cả bánh ga tô, rượu vang và một bó hoa Phong Lan thơm ngát. Vợ chưa về, bỗng bà bạn đồng niên phổ thông, góa chồng  ghé thăm. Hai người đang vui vẻ trò chuyện thì “Sư tử” xuất hiện. “Á, à, ghê chưa, tưởng bà này chậm máy bay nên tranh thủ đưa gái về nhà à? Lại còn hoa, rượu, ga tô nữa!”. “Ấy chết, ấy chết, không phải thế, anh  làm mâm này đón em về và mừng sinh nhật em nữa” – Ông Đại Cấn cuống lên. “Sinh nhật tôi ngày này tháng sau cơ mà, ông đừng có bịp tôi!”. “Ôi, thế thì anh nhầm. Đây là chị bạn phổ thông của anh tình cờ đến chơi thôi mà!”. Mới nói đến đấy, thì bộp, bộp, bà vợ lao vào tát, đấm tới tấp ông chồng đáng thương. Và hậu quả là đồng chí gãy  3 cái răng, đầu vỡ mảng lớn vì đập vào cạnh bàn.




- May mà “bộ âm tích” còn nguyên nhỉ. Ghen như bà ấy ăn thua gì, bà nhà tôi có lần năm mơ thấy tôi đang dạy bơi cho một em chân dài, thế là giận tôi hơn một tuần, thế có điên không!

- Thôi chém gió thế đủ rồi, ta đi thăm đồng chí “thương binh” quả cảm Bùi Đại Cấn đi các cụ!


Đình Tài – Lớp G Xuân Đỉnh - 8/2017




Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

GỐM THỜI LÝ - TRẦN


http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=6433
Tia sáng 10:54-11/06/2013 

Gốm Lý-Trần của Đại Việt

Phan Cẩm Thượng

Đĩa gốm men ngọc thời Trần. Tư liệu: NAT
Gốm Lý - Trần đã trở thành khái niệm mỹ học, giống như thơ Đường, tranh Tống, nghĩa là nhắc đến nó là nhắc đến cái đẹp, mặc nhiên về giá trị của nó. Cho đến nay, vẫn chưa có phong cách gốm nào ở Việt Nam vượt qua được gốm Lý - Trần.

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá đông hoàng diện
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Thủa trẻ không từng hiểu sắc không
Ngày xuân tâm sự rối hoa lòng
Chúa xuân nay đã từng quen mặt
Chiếu cọ giường sư ngắm bóng hồng.

(Trần Nhân Tông)
Mặc dù đứng về mặt nghệ thuật người ta hay nhắc chung một từ là nghệ thuật Lý - Trần, nhưng đây là hai thời đại rất khác nhau, có xu hướng phát triển riêng biệt và mỗi thời đại kéo dài đến hai trăm năm, khoảng thời gian không nhỏ để có được những thay đổi căn bản. Nhà Lý (1009 – 1225) và nhà Trần (1226 – 1400) có lẽ với đặc điểm chung lớn nhất là đều lấy Phật giáo làm quốc đạo, và ít nhiều chung nhau phương thức sản xuất nông nghiệp khai thác lao động nông nô và nông dân. Số dân ít dao động từ một triệu thời Lý đến ba triệu vào cuối thời Trần cho phép xây dựng một quốc gia quy mô nhỏ và thống nhất, đặc biệt là tạo ra một phong cách nghệ thuật toàn thể (phong cách phổ quát), nghĩa là cả nước chỉ có một phong cách nghệ thuật. Phong cách này thống nhất từ kiến trúc, điêu khắc, trang trí đến đồ gốm.

Nếu như kiến trúc và điêu khắc thời Lý - Trần còn chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Champa và không ít công trình có người Champa tham gia xây dựng, thì gốm Lý - Trần không có đặc điểm gì chung với gốm Champa, và có thể nói gốm Champa không có gì để so sánh với gốm Lý - Trần. Người Champa quan tâm không nhiều đến nghệ thuật gốm, gốm với họ cốt chỉ để đựng tạm thời.
Giữa gốm thời Lý và gốm sứ Đường Tống Trung Hoa có nhiều đặc điểm chung về thẩm mỹ và kỹ thuật, nhất là phong cách nghệ thuật Lý rất gần gũi với phong cách nghệ thuật Đường, trong khi đó gốm thời Trần là cái gì đó rất riêng biệt, đặc biệt là gốm hoa nâu. Ở Trung Hoa người ta không tìm thấy được cái gì tương tự. Thực ra thì gốm Lý - Trần cũng không rơi từ trên trời xuống và không phải phát triển từ mảnh đất tưởng chừng như trống không của thời Bắc thuộc. Các kỹ thuật gốm đất nung và gốm mộ Hán trước thời Lý cũng được thời Lý tiếp thu rất sáng tạo.

Theo các tài liệu truyền thuyết và lịch sử, cho đến thời Lý - Trần, gốm đã có ba trung tâm, mà còn tồn tại cho đến ngày nay, đó là làng gốm Bát Tràng, Phù Lãng và Thổ Hà, riêng làng Thổ Hà thì ngưng làm gốm đầu thế kỷ 20. Ba làng này do ba vị đại quan thời Lý - Trần là Đào Tiến Trí, Hứa Vĩnh Kiều và Lưu Phong Tú do đi sứ ở Trung Hoa học được nghề gốm mà truyền lại do dân làng. Bát Tràng thì sản xuất gốm sắc trắng, Thổ Hà gốm sắc đỏ, Phù Lãng gốm sắc vàng. Gốm sắc đỏ chính là đồ sành men nâu và đồ sành đất nung thô, gốm sắc vàng chính là gốm sành men da lươn. Riêng gốm sắc trắng chính là gốm men trắng và men trắng vẽ hoa lam của Bát Tràng. Loại gốm vẽ hoa lam xuất hiện nhiều vào thời Trần và được nâng thành đỉnh cao ở thời Lê sơ thế kỷ 15.

Địa bàn có thể khảo cổ được của gốm Lý - Trần rất rộng, nhưng tập trung chủ yếu vào các tỉnh đồng bằng: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa và Hà Nội. Đặc biệt trong các mộ chí vùng Mường xưa kia từ Lương Sơn hắt lên thị xã Hòa Bình cũng có nhiều gốm Lý - Trần chôn theo người chết. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thì làng Bát Tràng hằng năm sản xuất gốm, đem bán mối lợi rất to, điều đó chứng tỏ, gốm Lý - Trần là mặt hàng thương mại quan trọng của hai thời đại đó. Trên một cái đĩa men ngọc thời Lý ở bảo tàng Lịch sử Việt Nam có vòng chữ thành hình tròn: Tố xuất phù dung dạng thanh khí/ Mại mãi khách nhân giai phú quý (Sản xuất đĩa gốm men ngọc vẽ hoa phù dung/ Khách mua bán đều là người phú quý). Chiếc đĩa này cho biết một thông điệp về tình hình thương mại đồ gốm có vẻ phát đạt vào thời Lý và con người thời đó không chỉ dùng đồ gốm để ăn uống thông thường mà nhu cầu thưởng ngoạn vẻ đẹp của món đồ cũng hết sức quan trọng. Không có đồ gốm Lý - Trần nào mà không đẹp, dường như cái đẹp là nhu cầu rất phổ biến của thời này, một chiếc chậu mà chúng ta nâng niu yêu thích thì vào thời đó chắc chỉ để rửa chân mà thôi, những chiếc thạp hoa nâu lớn bây giờ là một tài sản đáng giá thì vào thời Trần nó chỉ có chức năng như chiếc tiểu cải táng thông thường của người Việt.

Gốm Lý - Trần dù rất sang trọng nhưng dường như không có sự phân biệt giữa Quan diêu và Dân diêu, cách thức phân biệt của người Trung Hoa về loại gốm sứ dành cho vua quan và cho dân thường, được chế tác và nung từ hai cơ sở khác nhau, chất lượng khác nhau hoàn toàn. Cũng theo Nguyễn Trãi, thì các lò gốm trong nước hằng năm chọn những món đồ tốt nhất dâng lên triều đình, như vậy về căn bản không có sự phân biệt hoàn toàn giữa gốm dân gian và gốm nội phủ (dành cho vua chúa quý tộc). Gốm Đại Việt chủ yếu phân biệt ở chất lượng của từng sản phẩm, đặc biệt là cách nung hàng loạt dùng viên sỏi kê lòng, nên từng cái bát, cái đĩa đều có dấu ấn của ba đến năm vệt sỏi giữa lòng, còn đĩa bát chất lượng hơn thì lòng trơn, nghĩa là không kê một chồng mà nung từng chiếc một. Khi khảo cổ học đào bởi di tích Hoàng thành Thăng Long, đã tìm được những chồng bát nung dính vào nhau, người ta cho rằng ngay trong thành cổ có những lò gốm và như vậy thì bát dùng thông thường của quý tộc cũng không nhất thiết là phải nung từng cái một.

Gốm trắng nổi lên là loại gốm phổ thông, nhưng rất tinh nhã của thời Lý. Chúng được làm với nghệ thuật bàn xoay rất cao, dáng vuốt to nhỏ chênh lệch ngay trong đồ gốm rất lớn, thành gốm rất mỏng chứng tỏ một trình độ tạo hình thành thạo. Hình dáng thường là các loại bát nở miệng, thắt lại rất nhỏ ở chân đáy; những chiếc âu đủ các loại các cỡ, cái thì giống như bát khất thực của nhà sư, cái thì rộng lòng như quả dưa lớn; những chiếc đĩa đựng cong thành; những chiếc ấm hình quả dưa có vòi và quai, nắp rất cân đối. Men bên ngoài thành gốm, có lẽ đương thời rất trắng, nay tìm được từ lòng đất lâu năm ngả thành mầu vàng nhạt hoặc vàng ngà, rất trong, bóng, và mỏng. Phần lớn các gốm trắng không có chút hoa văn nào, tự dáng hình và chất lượng men tạo ra vẻ đẹp của nó.

Gốm đen có một vẻ đẹp giản dị mà mạnh mẽ khác, thường đi với các loại đồ gia dụng loại nhỏ, những bát loe miệng có bôi mầu đen như nước mật, đặc biệt là những bát mầu đen có trang trí hoa văn chân chim. Những hoa văn này được in khéo tới mức, người ta có cảm tưởng người thợ dùng một cái chân chim ấn vào lòng bát, hay giống như một con chim đi qua lòng bát khi nó còn đang ở dạng đất ướt. Thực ra mầu đen của gốm đen là biến thể của gốm hoa nâu, các ôxít sắt dùng làm mầu vẽ có biến dạng mầu khá phong phú, tùy theo độ nung như thế nào.

Đỉnh cao của gốm Lý được xác định là gốm men ngọc, khái niệm chữ Hán gọi là Thanh khí (đồ men xanh), người phương Tây gọi là gốm Celadon. Đặc điểm của gốm men ngọc có mầu xanh ngọc bích và nhiều biến sắc của mầu xanh đó. Men ngọc tạo ra nhiều cảm giác thẩm mỹ trái ngược, men rất trong nhưng nhìn thì rất đục, thành gốm dày nặng nhưng cảm giác rất mỏng nhẹ, hoa văn chìm (ám họa) nhưng nhìn rất nổi và tiếng gõ nghe trong trẻo như tiếng ngọc. Tất nhiên từ gốm men ngọc đến sứ men ngọc có một khoảng cách lớn về các giá trị thẩm mỹ khác nhau. Giữa gốm men trắng và gốm men ngọc có mối quan hệ qua lại mật thiết và vô số sản phẩm trung gian hình thành.

Con người thời Lý rất sang trọng, đồ đạc của họ nói lên điều đó. Chúng ta không biết người thời Lý ăn những món gì, nhưng đồ đựng của các món ăn cho thấy họ có cuộc sống lịch thiệp quý phái, có sự tinh tế mà đơn giản. Những chiếc bát hình bông hoa sen, hoa súng được chuốt các lớp cánh hoa nổi nhẹ lên thành gốm, miệng lượn cong hoặc trổ khuyết nhẹ từng điểm cách đều nhau, cầm cái bát trên tay mà như hứng một đóa hoa đang nở. Những chiếc ấm men trắng và hoa nâu thời Lý vừa đúng công dụng tùy từng kích cỡ, vừa đẹp mỹ mãn. Có những chiếc ấm tu chỉ nhỏ như quả quít, tức là người ta dùng cái ấm đó để uống luôn chứ không cần rót nước ra chén. Những chiếc ấm pha trà, đựng rượu có thể tích lớn như quả dưa bở hình khối rất nở nang, chân thắt nhỏ lại miệng loe cao và vòi nhỏ như một núm nổi trên thành mặt cong. Lại có cả những đồ đựng chiêu rượu hình con vẹt, hình tiên nữ đầu người mình chim (con Kinnari), mà lại có cả một đôi đực cái. Đồ đựng phấn là một chiếc hộp hai nửa chạm nổi cánh sen bên trong trổ hoa cúc dây, các quý cô quý bà sẽ nhón chút phấn hoa từ đó mà thoa lên má… Chỉ có những xã hội phát triển có tính tổ chức cao, lấy đạo Phật di dưỡng tinh thần, mới có thể sinh ra được những sản phẩm phổ biến và đặc trưng như vậy. Trong xã hội đó không có chỗ cho sự phàm ăn tục uống, sự nhỏ nhen và tỵ hiềm, một xã hội có vẻ rất bình an và đi tới bình an.

Xã hội Lý và xã hội Trần có nhiều vấn đề cách biệt, nhất là khi nhà Trần phải ba lần vất vả chống Nguyên Mông, một thế lực hùng mạnh trên thế giới lúc bấy giờ. Nhà Trần phải giải quyết nhiều mặt về tinh thần xã hội đối với sự thay đổi của Phật giáo sao cho thích hợp với thời cuộc, và giữ sự cân bằng cho đời sống dân sinh. Cái không khí hùng tráng của những trận đánh chống Nguyên Mông tạo ra âm hưởng cho nhiều nghệ thuật và văn thơ, trong đó có gốm. Gốm thời Trần bớt đi vẻ tinh nhã của gốm Lý, thay vào đó là sự bề thế, mạnh mẽ, cái đẹp của trí lực. Những chiếc bát chân cao cho thấy người cầm nó cũng cần phải khỏe tay, những chiếc thạp gốm khắc hình hoa sen và bôi mầu nâu với hình khối lớn kết hợp hình dáng hoa quả và hoa sen, trở nên độc đáo không thời nào có được. Gốm hoa nâu thời Trần có vẻ gần gũi với nghệ thuật tạo hình hơn là đồ gốm có công năng.

Tục hỏa táng và cải táng có lẽ phổ biến trong tang ma của người Việt thời Trần. Cải táng mang tính truyền thống của dân Việt cổ, và hỏa táng do ảnh hưởng của Phật giáo từ Ấn Độ. Những chiếc thạp gốm lớn chính là một đồ vật dùng trong nghi lễ cải táng, nghĩa là sau khi bốc mộ, hoặc thiêu, thì cốt hay tro hài của người chết sẽ được đựng trong những chiếc thạp. Đôi khi người ta làm hai cái thạp lồng vào nhau, cái to đựng cái bé, cái bé đựng di hài. Những chiếc tháp kép được làm rất cầu kỳ: một tiêu bản của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cho thấy thạp nhỏ được nung trước (nung tới đâu, còn chưa biết), sau đó đặt thạp nhỏ vào trong thạp lớn chưa nung, rồi nung cả hai. Quá trình nung cả hai như vậy đôi khi hai sản phẩm co ngót khác nhau và làm hỏng cả hai. Đây là một kỹ thuật khá cao. Cốt gốm hoa nâu đương nhiên rất dày so với gốm trắng và gốm men ngọc, và với nhiều đồ đựng lớn, gốm hoa nâu được cấu tạo nhiều phần lắp ghép: nắp – miệng – vai – thân – chân đế. Xu hướng sản xuất chuyên nghiệp và tạo hình đơn giản quán xuyến nền gốm thời Trần.

Trong cốt gốm Lý - Trần thành phần gồm cao lanh và đất sét, hàm lượng cao lanh chỉ chiếm 50% đến 60%; khi nung ra, mầu của đất khá xám chứ không được trắng như gốm Trung Quốc (mỏ cao lanh nằm ở Giang Tây, được coi có chất lượng tốt nhất thế giới, đến mức chẳng cần bất kỳ một máy móc nào để khử từ - loại bỏ các nguyên tố sắt trong đất cả). Mỏ đất sét trắng ở Việt Nam cho loại cao lanh trung bình, và có ở mỏ Trúc Thôn (Hải Dương), Giếng Đáy (Quảng Ninh). Về chất lượng cao lanh như vậy, gốm Đại Việt không tài nào nâng lên thành đồ sứ được cả. Muốn nung thành đồ sứ, trong nguyên liệu phải có đá bạch đôn tử, theo như Vương Hồng Sển, trong cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, tỷ lệ pha trộn là 75% cao lanh, 25% bạch đôn tử. Cốt gốm Lý - Trần cũng được pha thêm bã thực vật, sau khi thành phẩm, cốt tương đối xốp và nhẹ. Người ta cho rằng do đặc điểm của cốt gốm không bạch đôn tử như vậy, nhiệt độ nung của gốm Lý - Trần chỉ đạt tối đa là 1.200 độ C, nên lò nung nhiệt cao là không cần thiết, nếu cốt gốm đó mà nung trên 1.270 độ C thì cấu trúc dễ vỡ hoặc giòn quắt, hoặc tự vỡ. Theo phán đoán thì nhiệt độ nung của gốm Lý - Trần đạt từ 1.100 độ - 1200 độ C.

Men trắng gốm Lý - Trần được chế từ phù sa và tro củi; men nâu từ oxit sắt và sunfua thủy ngân; men ngọc từ oxit sắt và oxit đồng. Trên gốm hoa nâu, người ta thường gạt đi một số chỗ men trắng để bôi mầu nâu, có thể làm theo hai cách: nền trắng hoa văn nâu, hoặc ngược lại nền nâu hoa văn trắng. Mầu nâu chế tạo từ đá son, bản chất của mầu nâu đỏ và đen chế từ các oxit sắt và một thành phần nữa là sunfua thủy ngân, cái này nằm trong đá chu sa, thần sa. Mầu đen cũng chỉ là biến thể của mầu nâu. Mầu lục của gốm men ngọc do sự tham gia của oxit đồng, nhưng ít hơn nhiều so với sử dụng oxit sắt và oxit đồng tạo ra mầu xanh khi nung trong môi trường oxy, thực chất là oxit sắt được nung trong môi trường khử, tức là môi trường thiếu oxy, tạo ra lửa hoàn nguyên. Công thức thì đơn giản như vậy, nhưng gốm luôn luôn là bí ẩn, phụ thuộc vào nhiệt độ lò nung tạo ra các phả ứng hóa học cụ thể với cốt và men gốm, cùng kinh nghiệm của người thợ. Kết quả của sản xuất gốm thủ công không lần nào giống lần nào, chỉ có thể tạo ra các sản phẩm tương tự chứ không lặp lại chính xác như gốm sứ công nghiệp. Các sắc độ mầu trên đồ gốm Lý - Trần, ra rất phong phú, nhìn thoáng qua thì thấy giống nhau, nhưng đặt cạnh từng đồ, mầu sắc rất khác. Mầu men ngọc biến đổi từ xanh ngọc bích, xanh lục nhạt, lục sẫm, lục vàng, lục tím, tím xanh thẫm. Mầu trắng cũng biến đổi vô cùng, trắng, trắng nhờ nhờ, trắng ngả vàng, trắng ngả xanh nhạt, trắng vàng, vàng và vàng sẫm. Mầu nâu có từ nâu đỏ, nâu vàng, nâu nhạt, nâu đậm, mầu nâu bánh mật, nâu sẫm, nâu rất sẫm, nâu đen và đen.

Hiện nay nhiều người đã mày mò trở lại phục chế gốm Lý - Trần và cũng đạt đến những hiệu quả nhất định, nhất là trong lĩnh vực gốm hoa nâu. Với gốm men ngọc, sản phẩm phục chế còn rất vụng dại. Gốm trắng và gốm đen tưởng là dễ nhưng lại khó phục chế nhất. Riêng cái tinh thần, sự cao nhã mà thô phác của gốm Lý - Trần thì con người hiện nay không có cách gì trở lại được. Nó sinh ra từ hai thời đại khởi đầu của nền độc lập dân tộc, từ sự thông tuệ và từ bi Phật giáo, sự hào sảng của những cuộc chiến chống ngoại xâm… - tất cả những yếu tố xã hội đó mới quyết định giá trị thẩm mỹ của một đồ gốm Lý - Trần rồi mới đến những vấn đề kỹ thuật.

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Dịch giả Mai Sơn bàn về sách Triết học


Nhíu mày bên sách triết

Thứ Ba, 21/05/2013 16:10 |

(Thethaovanhoa.vn) - Trên thế giới đang có hiện tượng con gái nhà giàu xinh đẹp đua nhau học triết, học nghệ thuật. Nhìn các cô ngồi trên băng ghế đá trầm tư, có lúc nhăn trán nhíu mày, thấy đẹp mê hồn. Không như các cô gái Việt, trăm cô chụp hình thì gần trăm cô đưa hai ngón tay làm hình chữ V lên, ngoài ra chẳng biết “triết lý” gì với người nhìn mình- nhà văn, dịch giả Mai Sơn nhận xét.

Tiếp theo bài viết về xu hướng “Ipad hoá” triết học trong những cuốn sách triết phổ thông trên số trước, TT&VH Cuối tuần có cuộc trò chuyện với nhà văn, dịch giả Mai Sơn (*) về xu hướng đọc sách triết hiện nay.
Nhà văn, dịch giả Mai Sơn
* Việt Nam từng có những tác phẩm triết học nào làm chấn động hay thay đổi ý thức hệ một thời không, thưa anh?
- Ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ 20, các tác phẩm triết học của Jean-Jacques Rousseau và Montesquieu đã góp phần quan trọng mở ra một phong trào đòi dân quyền, khai dân trí rộng khắp cả nước, nhất là ở miền Trung. Phan Châu Trinh, người chủ xướng cuộc vận động văn hóa - chính trị vĩ đại này đã mừng rơi nước mắt và kêu lên khi lần đầu tiên trông thấy cuốn Du Contrat Social của J.J. Rousseau: "Dân ước luận của Lư Thoa đây rồi!”. 
Sau này các tác phẩm của Karl Marx và Lenin ở miền Bắc những năm 1950, các tác phẩm của Nietzsche, Heidegger, Sartre ở miền Nam những năm 1960, đầu những năm 1970 đã làm thay đổi số phận của một dân tộc như thế nào thì nhiều người đã biết. Trong khi “não trạng” của những người theo Marx là hướng đến hành động cách mạng dựa trên triết lý chủ yếu của ông: “Lâu nay các triết gia đã giải thích thế giới bằng nhiều cách rồi; vấn đề là cải tạo nó”, thì đầu óc giới trẻ miền Nam thời bấy giờ là ý thức khốn khổ của những cá nhân thấy mình cô đơn trong một thế giới phi lý.
* Vậy thì địa vị của các sách triết học thường được xếp hay đánh giá như thế nào với thế giới sách nói chung? 
- Đánh giá hay so sánh sách triết học với các loại sách khác là điều rất khó. Nhìn chung mọi người hay đối xử với chúng theo cách “kính nhi viễn chi”, tuyệt không phải là sách giải trí. Dù rằng rất nhiều tư tưởng triết học gần gũi với số phận con người, số đông độc giả vẫn không mấy tin tưởng vào các triết gia vì họ cảm thấy đó là những khung xương không có máu thịt. Nhưng với những người có mối quan tâm đến triết học, thì “sự di chuyển nhẹ nhàng của tư tưởng từ nguyên nhân này đến hệ quả kia” đã mang đến những giây phút bừng sáng của trí tuệ.
* Hẹp hơn nữa, triết đã tác động như thế nào vào ngôn ngữ tiếng Việt?
- Giàu có lên! Thế nào rồi ngôn ngữ triết cũng sẽ được tận dụng không chỉ trong phạm vi học thuật, khi mà triết học đang thâm nhập và biến hóa muôn hình vạn trạng vào đời sống. Nhiều người e ngại, thấy chúng nặng nề hơi hướng Tàu, nhưng đó là cái khó của khái niệm chứ không phải của từ ngữ. Qua các bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn, chúng ta thấy tiếng Việt có thể chuyển tải tài tình lối nói huyền ảo mà khúc chiết của Kant và Hegel như thế nào. Trước đây Phạm Công Thiện cũng nói rằng tiếng Việt mình đủ tiềm năng trình bày mọi loại triết học Tây phương.
Cuốn 101 triết gia (NXB Tri thức & Phương Nam Book, 2007, 840 trang) là một nhập môn dạng từ điển, khá dễ đọc, do Mai Sơn biên soạn
* Tại sao gần đây thế giới có xu hướng “đời thường” hóa triết học? 
- Tôi không biết xu hướng đó cụ thể thế nào, nhưng “đời thường hóa” triết học là chuyện xưa nay nhân loại vẫn làm. Lý do là, khi triết học đưa ra những chân lý, nó mặc định rằng hễ là con người có trí tuệ thì phải hiểu, nhưng chỉ vì lý do kỹ thuật, ngôn từ và cách trình bày mà đa số dân chúng chưa thấu đáo, nên triết học phải tìm cách đi những đường vòng, đôi khi rất lâu, rất xa, nhưng cuối cùng rồi sẽ tới. Hegel từng nói đại ý, tất cả những gì khó khăn nhất, công phu nhất về văn hóa và tư tưởng từ từ sẽ trở thành dễ dàng cho số đông, thậm chí như là trò chơi, với các thế hệ đến sau, nếu không như thế, thì lịch sử sẽ lặp lại và không có tiến bộ. 
“Người Việt Nam thường hay “triết lý” trong mọi hoàn cảnh. Nếu họ chịu khó đọc thêm sách triết để củng cố lý lẽ của mình, chắc rằng họ sẽ thông minh hơn, và biết cách ứng xử hơn”.
Nếu như hiện nay đang có xu hướng “đời thường hóa” triết học mạnh mẽ, thì chắc là do nhân loại đang hạnh phúc, đang yên ổn và có nhiều thời gian suy nghĩ về những câu hỏi lớn như chiến tranh hủy diệt toàn cầu, thảm họa môi trường lẫn những vấn đề thiết thân hàng ngày của họ. Và nhìn chung, những tư tưởng hòa bình, khoan dung, đối thoại đang phổ biến hơn trong những ngày này. Điều đó cũng dễ hiểu, vì triết học vốn chỉ xuất hiện trong sự nhàn rỗi, chứ không xuất hiện trong tình trạng khẩn bách. Khi khẩn bách, nhân loại sẽ xuất hiện với những phương cách khác, bộ dạng khác, rất khó nhìn, chứ không phải với khuôn mặt trầm tư như chúng ta thấy hiện nay.
* Trong xã hội tiêu dùng toàn cầu, tâm thế của người đọc Việt Nam có nên thay đổi ý niệm và quan niệm về việc tiếp nhận sách triết không?
- Người Việt Nam thường hay “triết lý” trong mọi hoàn cảnh. Nếu họ chịu khó đọc thêm sách triết để củng cố lý lẽ của mình, chắc rằng họ sẽ thông minh hơn, và biết cách ứng xử hơn. Và để hội nhập với thế giới, ngay cả trên phương diện mua bán, làm ăn, chúng ta cũng cần phải học cách ăn nói và lắng nghe ở một mức độ nào đó đủ để đối tác thấy ta không phải là kẻ vật dục tầm thường.
Hiện nay trên thế giới có hiện tượng những cô gái nhà giàu xinh đẹp đua nhau học triết, học nghệ thuật. Họ không còn thiếu gì về vật chất nữa, mà cảm thấy mình còn nghèo nàn tinh thần, chưa có cái đẹp bên trong tâm hồn. Nhìn các cô ngồi trên băng ghế đá trầm tư, có lúc nhăn trán nhíu mày, thấy vẫn đẹp mê hồn; có lẽ vì cái đẹp bên ngoài và bên trong họ đang hòa quyện, có người đã hòa quyện đến độ chín muồi; chứ không như các cô gái Việt đẹp của ta, một trăm cô chụp hình thì gần một trăm cô đưa hai ngón tay làm hình chữ V lên, ngoài ra chẳng biết “triết lý” gì với người nhìn mình. 
* Anh có cho rằng nên có vài việc cần làm ngay?
- Nếu có, thì trong khi tiếp tục “đánh thức (giới trí thức) ra khỏi giấc ngủ giáo điều” bằng việc giới thiệu những công trình tư tưởng kỳ vĩ của nhân loại, thì cũng đừng quên rằng, vì nhiều lý do, đất nước ta như một miền đất mới khai hoang, không chắc các hạt giống triết học sẽ mọc lên mạnh khỏe. Do vậy, phải liên tục nhen nhóm và gìn giữ ngọn lửa đam mê triết học, yêu thích suy tư trong công chúng, đặc biệt là giới trẻ, bằng những loại sách triết học nhập môn. 
* Trân trọng cảm ơn anh!
Mai Sơn (sinh năm 1956) hiện là Trưởng ban tu thư của ĐH Hoa Sen; đã xuất bản 4 tập truyện ngắn; đã biên soạn và biên dịch gần 10 đầu sách triết, văn học, lý thuyết... Anh biên soạn 101 triết gia và dịch Câu chuyện triết học (chung với Huỳnh Phan Anh), Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại (chung với Phạm Viêm Phương), Vũ trụ trong một nguyên tử, Nhập môn Lacan, Triết học lục địa…
Đón xem tiếp bài sau: Những cuốn sách triết nên đọc trước khi... chết
VĂN BẢY (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

Bàn về Văn Hóa Trung Quốc


Tia Sang - 11:27-14/05/2013 
Vì sao Trung Quốc làm nên kỳ tích kinh tế nhưng lại chưa trỗi dậy về văn hóa?

Trịnh Vĩnh Niên *

Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nhưng Trung Quốc đã có sự trỗi dậy về văn hóa chưa? Rõ ràng là chưa bởi dù đời sống kinh tế giàu lên, nhưng Trung Quốc vừa chưa giành được sự tôn trọng của cộng đồng quốc tế, vừa chưa làm cho dân chúng trong nước được sống hạnh phúc hơn.

Trung Quốc cũng ý thức được điều đó, vì vậy họ cũng cố gắng giới thiệu nền văn hóa nước mình ra nước ngoài. Nhưng vì không có những tư tưởng mới và giá trị mới, Trung Quốc đành phải nhờ tới Khổng Tử. Họ lập các Học viện Khổng Tử. Nhưng các Học viện ấy lại bị đơn giản hóa thành nơi học ngôn ngữ, chữ viết của Trung Quốc. Bất kể người lập Học viện Khổng Tử hay người làm công tác truyền bá văn hóa khác, họ đều không biết mình cần phải truyền bá thứ văn hóa và giá trị như thế nào.

Theo quan điểm của ông Vương Canh Vũ **, sự trỗi dậy của Trung Quốc hiện nay là lần trỗi dậy thứ tư. Trong lịch sử, Trung Quốc ít nhất từng có 3 lần được công nhận là quốc gia lớn mạnh nhất trong vùng, vì thế người ta gọi sự trỗi dậy lần nữa này của Trung Quốc là sự “phục hưng”. Và người ta có thể học được rất nhiều bài học kinh nghiệm từ lịch sử những lần trỗi dậy này.

Lần trỗi dậy thứ nhất xảy ra vào quãng từ thế kỷ III trước CN đến thế kỷ III sau CN, tức từ khi triều nhà Tần thống nhất Trung Quốc cho đến triều nhà Hán. Vào thời nhà Hán, sức ảnh hưởng của Trung Quốc lan tới bán đảo Triều Tiên và vùng Đông Nam Á. Rất nhiều nước xung quanh Trung Quốc thời nhà Hán đã nhập khẩu hàng hóa và công nghệ của triều Hán, chủ yếu là tơ lụa, giấy viết, đồ gốm sứ và các công nghệ lục quân và hải quân. Trong giai đoạn này, ấn tượng sâu sắc nhất mà Trung Quốc đem lại cho mọi người là về kinh tế và văn hóa. Trong hơn 400 năm sau đời Hán, Trung Quốc chia năm xẻ bảy thành mấy tiểu quốc rối loạn bất an. 


Lần trỗi dậy thứ hai cùng với việc kiến lập triều nhà Đường hồi thế kỷ VII. Sức ảnh hưởng của triều Đường truyền bá tới Nhật và các vùng khác ở Đông Á, duy trì được gần 300 năm là nhờ có sự mở cửa [khai phóng] cao độ. Thời Đường chẳng những văn hóa mở cửa mà chính trị cũng mở cửa, Trung Quốc được các học giả phương Tây gọi là “Đế quốc mở cửa”. Sự truyền bá đạo Phật và việc các bộ lạc du mục phương Bắc định cư tại vùng trung nguyên — lực hỗn hợp lớn mạnh của hai loại ảnh hưởng đó đã tạo dựng nên một quốc gia mới, thể hiện tính thế giới cao độ của nó. Sự mở cửa cao độ cũng đem lại một thời đại không ngừng tăng trưởng về thương mại và công nghiệp, tạo dựng được một thời kỳ toàn thịnh thực sự trong lịch sử Trung Quốc.

Lần trỗi dậy thứ ba, với sự triều nhà Minh được lập vào năm 1368 và duy trì được khoảng 400 năm. Trong thời gian này, tư tưởng Nho giáo được tái xác lập là tư tưởng chính thống của tầng lớp thống trị. So với hai lần trước thì lần trỗi dậy này thua kém nhiều, bởi lẽ văn hóa chính trị của Trung Quốc bắt đầu trở nên rất bảo thủ. Chính sách bế quan tỏa quốc dẫn đến tình hình đất nước ngày một xấu đi. Mặc dầu triều Minh tăng cường phòng ngự nhưng vẫn không ngừng bị các nước xung quanh xâm nhập và cuối cùng bị người dân tộc Mãn chinh phục. 

Tiếp đến triều nhà Thanh. Lúc mới thành lập rất hùng mạnh nhưng sau đó tầng lớp cai trị lại tiếp tục duy trì chính sách bảo thủ và bế quan tỏa quốc của triều nhà Minh, và suy sụp dần. Năm 1840, khi Anh Quốc tấn công Trung Quốc thì nhà Thanh đã không còn sức chống trả nữa.

Sự trỗi dậy thiếu hồn đổi mới

Sự trỗi dậy của Trung Quốc ngày nay, ít nhất cho đến bây giờ, không giống như sự trỗi dậy của thời nhà Hán Đường, mà giống như thời nhà Minh (Thanh). Đã không có sự sáng tạo đổi mới chế độ như đời Hán, lại cũng không có sự mở cửa và sự trỗi dậy về văn hóa như đời Đường. Điều duy nhất giống sự trỗi dậy 3 lần trước là phát triển kinh tế và kèm theo là tăng cường sức mạnh quân sự, còn văn hóa về cơ bản vẫn còn ở trạng thái bế quan tỏa quốc, vừa từ chối tiếp thụ các giá trị phổ quát lại vừa không có sức sáng tạo văn hóa ở bên trong. Và có khả năng lặp lại tấn bi kịch của triều nhà Minh, tức là trước khi quốc gia trỗi dậy thực sự thì đã bắt đầu suy thoái. 

Chính sách bế quan tỏa quốc về thể chế và về tư tưởng của triều nhà Minh đã làm cho Trung Quốc bỏ mất cơ hội trở thành một quốc gia biển. Thời kỳ triều nhà Minh là thời mở đầu thế kỷ hàng hải của thế giới. Hồi ấy dù là về mặt nhà nước hay xã hội, Trung Quốc đều có năng lực trở thành quốc gia biển hơn bất cứ quốc gia nào. Trịnh Hòa đi ra biển phía Tây là sự tượng trưng cho năng lực [biển] của nhà nước. Nạn “cướp biển” “điên cuồng lạ thường” ở vùng ven biển Đông Nam là sự tượng trưng cho năng lực biển của dân gian Trung Quốc. Thế nhưng trong điều kiện không có sự đổi mới về tư tưởng và chế độ, nhóm người từng giành được những lợi ích đặc quyền to lớn dưới sự che chở của vương quyền đã chặt đứt con đường Trung Quốc đi lên thành quốc gia biển.
Ý nghĩa của trỗi dậy văn hóa đối với sự phát triển bền vững của quốc gia bị [người Trung Quốc] đánh giá cực thấp. Trỗi dậy thời Hán Đường là trỗi dậy về văn hóa ; suy thoái sau chót cũng là suy thoái về văn hóa. Nếu văn hóa không thể trỗi dậy thì tất nhiên sẽ phát sinh sự chế ước nghiêm trọng đối với kinh tế thậm chí chính trị. Xét từ bên trong, không có sự sản sinh tư tưởng thì không thể có sự đổi mới về chế độ, cuối cùng tất nhiên dẫn đến khép kín và suy thoái. Xét từ bên ngoài, không sinh ra tư tưởng thì không thể tạo dựng được một nền văn hóa và giá trị quan có sức thu hút. Nếu chỉ có trỗi dậy về kinh tế và tiến trình quân sự hóa liên quan với nó, thì [quốc gia ấy] sẽ bị coi là “bá đạo” và là mối “đe dọa”, từ đó làm xấu môi trường quan hệ quốc tế.


Sở dĩ văn hóa không trỗi dậy theo kinh tế, nhân tố hàng đầu là mối quan hệ giữa kinh tế với văn hóa. Dù cho người ta có thể quan sát thấy thí dụ kinh tế và văn hóa đồng thời trỗi dậy (thời Hán Đường) nhưng người ta cũng có thể quan sát thấy thí dụ kinh tế trỗi dậy mà không dẫn đến sự trỗi dậy của văn hóa (triều nhà Minh). Trỗi dậy kinh tế và trỗi dậy văn hóa không tồn tại mối quan hệ tất nhiên với nhau, hai cái đó không phải là cùng một sự việc. Cho dù không có trỗi dậy kinh tế cũng có thể vẫn có trỗi dậy về văn hóa. Bất kể ở Trung Quốc hay ở phương Tây, rất nhiều sáng tạo tư tưởng và văn hóa vĩ đại đã được tiến hành dưới trạng thái cực kỳ nghèo khó.

Ba nhân tố phi kinh tế của trỗi dậy văn hóa

Sáng tạo văn hóa và sự phân quyền của nhà nước, văn hóa mở cửa, người văn hóa độc lập — ba nhân tố phi kinh tế này càng có liên quan với nhau. Nếu tồn tại một trong ba nhân tố đó thì có thể xuất hiện sáng tạo văn hóa. 

Trong lịch sử, mỗi lần xuất hiện trạng thái phân chia quyền lực, nhất là khi hoàng quyền suy thoái, thì ngược lại, văn hóa sẽ xuất hiện tình cảnh phục hưng. Ngày nay mọi người Trung Quốc không muốn chính quyền nhà nước suy thoái để có sự trỗi dậy văn hóa. Ngược lại phần lớn mọi người mong muốn chính quyền nhà nước lớn mạnh cùng với sự trỗi dậy của văn hóa. Vấn đề là trong văn hóa chính quyền nhà nước nên quản lý cái gì, không nên quản lý cái gì.

Một nhân tố quan trọng hơn nữa là nhân cách độc lập của người văn hóa [văn hóa nhân]. Nếu có nhân cách độc lập thì không một nhân tố nào, kể cả chuyên chế và nghèo đói, có thể ngăn trở sự sáng tạo văn hóa. Nước Nga là một thí dụ điển hình. Bất kể nền chuyên chế của Sa Hoàng hay của chủ nghĩa cộng sản đều không thể ngăn cản sự sáng tạo tri thức của các nhà trí thức Nga. Dưới ách chuyên chế, các nhà trí thức Nga đã sáng tạo được một nền văn học nghệ thuật, tư tưởng triết học huy hoàng. Người văn hóa Trung Quốc chưa thể tiến hành sáng tạo văn hóa dưới ách chuyên chế — điều đó có liên quan tới việc người văn hóa ỷ lại cao độ vào chính quyền. Trong lịch sử Trung Quốc chưa từng xuất hiện cái mà phương Tây gọi là quần thể “nhà trí thức”, tức quần thể những người lấy sự sáng tạo tư duy làm nghề nghiệp suốt đời của mình.

Rất rõ ràng, muốn thực hiện sự trỗi dậy văn hóa Trung Quốc, khâu mấu chốt là ở chỗ điều chỉnh mối quan hệ giữa chính trị với văn hóa. Ý tưởng muốn chính quyền là chủ thể của sáng tạo văn hóa hoàn toàn chỉ là không tưởng. Như vậy không phải là nói chính quyền không có bất kỳ mối quan hệ nào với sáng tạo văn hóa, mà hoàn toàn ngược lại.

Thực tế cho thấy Ban Tuyên giáo Trung ương nhiều năm qua không thực hiện cải cách quản lý văn hóa có tính thực chất, mà trở thành một kiểu cơ chế kiểm soát đơn giản, dẫn đến sự chính trị hóa cao độ và quan liêu hóa cao độ trong lĩnh vực văn hóa, khiến cho những gien [gene] sáng tạo văn hóa nguyên sơ nhất cũng hoàn toàn không thể xuất hiện.
Sách lược của chính quyền, chính quyền ủng hộ cái gì và phản đối cái gì đều sẽ gây ra ảnh hưởng sâu sắc đối với sự trỗi dậy văn hóa. Tại Trung Quốc có hiện tượng quá nhiều nguồn lực của chính quyền bị dùng vào việc kiểm soát, và dùng quá ít nguồn lực cho sự sáng tạo cái mới, hoặc rót vào lĩnh vực văn hóa nào chính quyền tán đồng mà thôi. Nhưng có một thực tế là trong bất cứ xã hội nào, rất ít quan chức chính quyền hiểu được nội dung của sáng tạo văn hóa. Do vậy không ít trường hợp chính quyền ủng hộ văn hóa lại dẫn đến sự suy thoái của sự nghiệp văn hóa. Thí dụ điển hình là lĩnh vực Phật giáo, do được chính quyền ra sức ủng hộ, kết quả dẫn đến sự tham nhũng và phân hóa lớn trong nội bộ Phật giáo. Các lĩnh vực văn hóa như văn nghệ, văn học … cũng vậy. 

Việc chính quyền kiểm soát văn hóa đưa đến tình trạng phần lớn mọi người ỷ lại cao độ vào chính quyền, kết quả sẽ dẫn tới suy thoái văn hóa. Đối với những người văn hóa muốn giữ được một số tính độc lập, họ muốn sinh tồn và phát triển thì biện pháp duy nhất họ dùng là chống lại [đối kháng] chính quyền, qua đó tạo ra một loại văn hóa khác đối lập với chính quyền. Đó cũng là một loại văn hóa chính trị hóa quá mức, được người phương Tây khen hay, gọi đấy là sự trỗi dậy văn hóa của Trung Quốc. Nếu xem xét từ lập trường khách quan, dù là sáng tạo văn hóa do bản thân chính quyền tiến hành hay là sáng tạo văn hóa được tiến hành vì để chống lại hiện trạng chính trị, cả hai đều rất khó đi đến sự trỗi dậy của văn hóa.

Chắc chắn là nếu Trung Quốc muốn đi con đường trỗi dậy thời nhà Đường mà tránh đi con đường trỗi dậy thời nhà Minh thì biện pháp duy nhất là phải tiến hành cải cách thể chế văn hóa, giải phóng văn hóa ra khỏi chính trị, ra khỏi thể chế quan liêu, giải phóng người văn hóa ra khỏi quá trình quan liêu chính trị. Chỉ có “nhốt quyền lực vào trong cũi” thì văn hóa Trung Quốc mới có thể trỗi dậy được.

----


* Tác giả Trịnh Vĩnh Niên 郑永年, s. 1962, Thạc sĩ Luật ĐH Bắc Kinh, Tiến sĩ chính trị học ĐH Princeton, hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á thuộc ĐH Quốc gia Singapore, nhà bình luận nổi tiếng của Báo Buổi Sớm (Singapore), thường viết về chủ đề Trung Quốc với thái độ phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, được nhiều báo Trung Quốc đăng lại.

** Vương Canh Vũ, s. 1930, Tiến sĩ sử học ĐH London, thời gian 1957-86 từng dạy ở ĐH Malaya (Malaysia) rồi ĐH Quốc gia Australia, 1986-95 Hiệu trưởng trường ĐH Hong Kong, 1997-2007 Giám đốc Viện Đông Á thuộc Đại học quốc gia Singapore, từ 2007 tới nay là Giáo sư đặc cấp Đại học Quốc gia Singapore kiêm Chủ tịch Viện Nghiên cứu Đông Á.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch và ghi chú:

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6346&CategoryID=42

Nguồn:
http://business.sohu.com/20130424/n373836036.shtml
郑永年:中国创造经济奇迹 但为何文化没有崛起?

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Về tư liệu gốc trong KHXH&NV



Tia Sang - 09:35-28/03/2013 

Trần Trọng Dương

“Bia Đường Lâm”, niên đại ghi trên bia là năm
Quang Thái thứ 3 (1390), nhưng đã được
giám định là khắc vào đầu thế kỷ XIX, bản dịch
hiện đang trưng bày tại Bảo Lịch sử Quốc Gia.
Có một việc vô cùng nguy hiểm đang diễn ra bấy lâu nay trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam, đó là có một bộ phận không nhỏ các nghiên cứu viên không phân biệt được tư liệu gốc (original text) với tư liệu thứ cấp và tài liệu tham khảo; hay nói cách khác, họ không thấy cần thiết phải tiếp cận hoặc sử dụng các tư liệu gốc cho nghiên cứu của mình.

Tại một hội thảo khoa học của các nhà nghiên cứu trẻ ở Viện Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), anh Quang Hà (công tác tại Trung tâm Hoàng Thành) đề cập việc nghiên cứu lịch sử thời Lý Trần rất khó khăn bởi tư liệu hiện nay còn lại quá ít. Ngay lập tức một vị tiến sĩ tại Viện phản biện rằng: nói như vậy là không xác đáng, bởi tính cho đến thời điểm này đã có không biết bao nhiêu sách vở, công trình nghiên cứu về thời đại Lý Trần được xuất bản. Nghe lời giải thích ấy, chúng tôi giật mình hiểu ra rằng có một việc vô cùng nguy hiểm đang diễn ra bấy lâu nay trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam. Đó là có một bộ phận không nhỏ các nghiên cứu viên không phân biệt được tư liệu gốc (original text) với tư liệu thứ cấp và tài liệu tham khảo; hay nói cách khác, họ không thấy cần thiết phải tiếp cận hoặc sử dụng các tư liệu gốc cho nghiên cứu của mình. Có thể kiểm chứng thực trạng đó qua không ít bài viết được gọi là nghiên cứu đăng trên các tạp chí nhưng hóa ra chỉ là sản phẩm của việc người này trích dẫn lại người nọ. Đọc những bài viết ấy, người ta không thấy tư liệu mới, kết luận mới, nhận thức mới, mà chỉ thấy những lời văn mới được biên tập lại từ những bài văn cũ.

Tư liệu gốc là loại tư liệu được biên soạn, và định bản ngay trong chính thời đại đó, do chính chủ thể văn hóa, chủ thể lịch sử đó tạo tác. Ví dụ, những tư liệu gốc về thời đại Lý Trần phải là những tư liệu được định bản ngay trong chính thời đại Lý Trần. Và như chúng ta biết, không một cuốn sách nào được chép, in vào thời Lý Trần còn lại cho đến ngày nay! Bởi trải qua gần ngàn năm lịch sử, trải qua bao cuộc chiến tranh, thiên tai, nhân họa, các tư liệu văn hiến đó bị thất tán hết cả. Thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn từng thốt lên, sách vở xưa có mười mà nay không còn đến một.

Dĩ nhiên, sách vở (thường được định bản bằng giấy) không phải là loại hình văn bản duy nhất trong hệ thống tư liệu để nghiên cứu về xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, các tư liệu văn hiến còn được định bản trên các vật liệu khác như đá, gỗ, đồng, vàng, sứ, đất nung…, những vật liệu có tính bền vững cao hơn, khả dĩ vượt qua thử thách của thời tiết khắc nghiệt trong quãng ngàn năm. Kiểm lại các tư liệu gốc như vậy của thời đại Lý Trần còn lại cho đến nay phần lớn là các văn bia (quãng ba bốn chục văn bia) được khắc lên đá, thường được gọi là “những trang sử đá” của dân tộc. Văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (được Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật soạn, và được một vị Thượng thư khác viết chữ và khắc vào đời vua Lý Nhân Tông) ở chùa Long Đọi, Hà Nam, là một tư liệu như vậy. Được soạn và khắc với niên đại xác tín tuyệt đối, là vào năm 1121, đây là sử liệu gốc duy nhất còn lại do chính vua Lý Nhân Tông cho soạn. Văn bia này cũng là một tuyệt phẩm nghệ thuật ở các lĩnh vực: văn chương, điêu khắc cổ và thư pháp cổ điển.

Loại tư liệu gốc thứ hai là loại tư liệu có khả năng được biên soạn vào thời đại đó, nhưng hiện chỉ còn văn bản được chép - in lại vào thời đại sau. Điển hình cho loại này là các sách Khóa hư lục của vua Trần Thái Tông, Lĩnh Nam trích quái, Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh… Tức là những sách được sáng tác vào đời Trần, nhưng hiện còn lại phần lớn là văn bản từ thế kỷ XVII trở về sau. Những văn bản đó không ai dám chắc đã mang đúng những thông tin vào thời Trần, mà có khả năng trong mấy trăm năm lưu truyền, sao đi chép lại, văn bản đã được bổ sung/thêm bớt nhiều lần, khiến cho chúng ta không thể nào biết được diện mạo của văn bản gốc1.

Đến như văn bản Đại Việt sử ký toàn thư - một văn bản quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam, ghi chép những sự kiện từ sơ sử đến nhà Lê, cũng chỉ là những tập hợp qua nhiều đời và bản in hiện còn được khắc in vào cuối thế kỷ XVII. Từ những ngổn ngang tư liệu như thế, người ta đã cho tiến hành những bản dịch sang tiếng Việt hiện đại. Nhiều người chỉ biết trích dẫn lại những bản dịch của những tư liệu chưa được kiểm định. Không mấy ai quan tâm và biết tư liệu gốc vốn được ghi chép như thế nào? Ghi chép ấy có gì chưa chuẩn xác? Bản dịch của những tư liệu ấy khả tín đến đâu? Các tạp chí chuyên ngành cũng không có quy định nào cụ thể liên quan đến việc trích dẫn tư liệu gốc và tài liệu tham khảo. Trong khi đó, ở nước ngoài những quy định như vậy là bắt buộc và là điều đương nhiên ai cũng biết2.

Nhiều người không thể tưởng tượng có những chuyện tày trời trong kho thư tịch cổ. Này là Gia huấn ca của đại danh hào Nguyễn Trãi, Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Cưu Đài thi tập của Nguyễn Húc, “tấm bia Đường Lâm” để xác định quê quán của hai vua Phùng Hưng - Ngô Quyền,… lại đều là đồ giả (ngụy thư)3. Tư liệu giả cũng có muôn hình vạn trạng khác nhau, tùy từng động cơ và mục đích. Ví như, vì yêu quý danh nhân, thương xót cổ thư mà người ta sáng tác lại Gia huấn ca, hay Binh thư yếu lược. Có khi chỉ vì tiền, mà người ta chép sách của người này gán vào người khác, như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim biến thành Việt sử diễn âm của Hoàng Cao Khải. Có khi vì muốn kéo dài lịch sử, mà người ta cho làm giả niên đại của một cuốn sách, như thần phả Hùng Vương - chủ yếu là các văn bản của thế kỷ XVIII- XIX, nhưng đã được “khai khống” niên đại lên đến tận đời Lê Hoàn (thế kỷ X) hay Lê Thánh Tông (thế kỷ XV).

Từ tác phong khoa học, những mối hại dần dần chuyển nhịp sang cả đời sống đương đại. Người ta sẵn sàng dựng lên một nhân vật lịch sử nào đó với những mục đích riêng tây khác nhau. Một vị thành hoàng làng vô danh bỗng chốc trở thành thủy tổ của một dòng họ nổi tiếng, mà hậu sinh giờ đây là một doanh nghiệp giàu có. Một tín ngưỡng ở tầm địa phương vốn vay mượn từ truyện truyền kỳ Trung Hoa được “nhân vật hóa - lịch sử hóa” để trở thành một triều đại có thật trong lịch sử và trở thành niềm tự hào của hơn tám mươi triệu con người. Những mảnh ghép của nhiều nhân vật lịch sử khác nhau được nhào nặn để từ đó một danh tướng - anh hùng lịch sử xuất hiện. Người ta dùng cả những con ấn giả để buôn bán niềm tin tâm linh.

Từ năm 1945, khi chữ Hán, chữ Nôm chính thức được/bị thay thế bằng hệ thống chữ cái Latin (chữ Quốc ngữ)4. Những tư liệu gốc đã bị phá hủy không biết bao nhiêu mà kể, bởi quan niệm một thời: chữ viết thể hiện ý thức hệ phong kiến cổ hủ và lạc hậu. Cho đến nay, tình trạng ấy chưa phải đã hết. Một số cơ quan chuyên ngành mặc dù đã cố gắng, song việc sưu tầm, xử lý và vi tính hóa tư liệu ấy đến nay vẫn còn đang dang dở. Khá nhiều tư liệu vẫn còn đang nằm trong dân gian, và ngày ngày bị đe dọa biến mất. Một số lớn các tư liệu khác nằm ở nước ngoài (Mỹ, Pháp, Anh, Hà Lan, Italy, Nhật Bản,…) vẫn chưa có dự án nào đưa về nước để khai thác. Còn quá nhiều việc phải làm cho nghiên cứu cơ bản. Cụ thể ra sao chúng tôi xin được đề cập đến trong một dịp khác.

-------------------------------------------
1 Ví dụ như cuốn Đại Việt sử ký toàn thư, theo nghiên cứu văn bản học gần đây của một nhà Hán học Nga thì có những căn cứ rõ nét cho thấy cuốn sách này được sử quan nhà Mạc biên tập, thêm bớt, cắn xét với những mục đích khác nhau. [A. L. Fedolin. Những cứ liệu mới về việc chép sử Việt Nam. Lương Tự Cường dịch. NXB Văn hóa Thông tin. Hà Nội. 2011].
2 Gần đây tôi có một người bạn học ở nước ngoài về. Anh rất quyết liệt trong việc đi học chữ Hán cổ, bởi lẽ, một số bài nghiên cứu của anh không được đăng do các cứ liệu, trích dẫn đều lấy từ các bản dịch. Mà bản dịch thì không phải là tư liệu gốc.
Xin xem các bài Hoàng Văn Lâu. Ai viết Gia huấn ca. Tạp chí Hán Nôm. số 01- 1984.
Ngô Đức Thọ. Khảo cứu về Binh thư yếu lược. Tạp chí Hán Nôm, số 01- 1989.
Phạm Văn Ánh. Về Nguyễn Húc và bộ Cưu đài thi tập hiện còn. Nghiên cứu Văn học, số 02 – 2006.
Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương. Đường Lâm là Đường Lâm nào? (Tìm về quê hương Đại Sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu). Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Huế. Số 02- 2011.
4 Vũ Thế Khôi. Ai bức tử chữ Hán Nôm? http://vanhoanghean.vn


----------------------------------------------
Xem thêm:


Tia sáng - 03:22-27/03/2013 

DI SẢN HÁN NÔM: Phải nghĩ tới việc sưu tầm bên ngoài biên giới quốc gia

Theo nhà nghiên  cứu Cao Tự Thanh, từ thời Pháp thuộc trở đi thì tài liệu Hán Nôm là hệ thống quan trọng bậc nhất trong di sản văn hóa truyền thống của dân tộc nhưng vì một số lý do, hệ thống này đã bị thất tán quá nhiều, và thực tế đó buộc chúng ta phải nghĩ tới việc sưu tầm di sản bên ngoài biên giới quốc gia.

PV: Là một người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực cổ học, ông có thể cho biết tài liệu Hán Nôm giữ vai trò như thế nào trong lịch sử văn hóa Việt Nam?

Ông Cao Tự Thanh: Dưới thời phong kiến thì đó là bộ phận gắn liền với những thành tựu tổ chức xã hội, phát triển văn hóa của dân tộc Việt Nam mà đại diện là tầng lớp trí thức. Còn từ thời Pháp thuộc trở đi thì đó là hệ thống quan trọng bậc nhất trong di sản văn hóa truyền thống của dân tộc. Đáng tiếc là vì một số lý do hệ thống này đã bị thất tán quá nhiều, nhưng muốn hiện đại hóa đất nước thì phải kiểm điểm lại tất cả những nguồn lực truyền thống, nhìn nhận lại toàn bộ những kinh nghiệm quá khứ, và như vậy không thể không quan tâm tới việc sưu tầm, bảo quản và khai thác các tài liệu Hán Nôm.

Các loại hình di sản thư tịch có mức độ phong phú như thế nào?
Chữ viết là công cụ thông tin và lưu trữ, thì tự nhiên các loại hình tài liệu Hán Nôm phải tương ứng với hoạt động thông tin và lưu trữ của các hệ thống sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, giao tiếp xã hội, quản lý xã hội vân vân trong quốc gia Việt Nam thời phong kiến. Chính quyền ban bố mệnh lệnh, tổ chức bộ máy, kêu gọi nhân dân, hoạt động đối ngoại, trí thức phát biểu chính kiến, sáng tác thơ văn, trước tác công trình, biên soạn giáo trình, nhân dân sinh hoạt từ ma chay cưới gả tới gia phả di chúc, xã hội giao dịch từ điếu tang chúc thọ tới mua bán cầm cố, tôn giáo tuyên truyền giáo lý, quảng bá kinh sách, chuyện gì mà không cần chữ viết, không có tài liệu. Còn nói về cái vỏ vật chất của văn bản thì ngoài chất liệu phổ biến là giấy, tài liệu Hán Nôm Việt Nam còn có các văn bản đồng, đá, tre, gỗ, vải vóc, gốm sứ, có thua kém quốc gia dùng chữ Hán nào đâu.

Ông từng nhắc đến việc thất tán tài liệu Hán Nôm trong thế kỷ XX. Sự thất tán này cụ thể ra sao?
Cũng như các thế kỷ trước, việc thất tán tài liệu Hán Nôm trong thế kỷ XX có ba nguyên nhân chủ yếu, tức một là thiên tai, hai là chiến tranh, ba là sự thiển cận và vô trách nhiệm của con người. Thiên tai là chuyện không có ai muốn nhưng cũng không biết làm sao, ở đây không bàn.
Chiến tranh thì suốt sáu thế kỷ, từ XV đến XX thế kỷ nào Việt Nam cũng có, riêng trong thế kỷ XX là 30 năm. Thế kỷ XV, ngoài số bị phá hủy vì binh lửa còn có những tài liệu thư tịch bị nhà Minh đưa về Kim Lăng; thế kỷ XIX và XX cũng có một số bị đưa ra nước ngoài với những cách thức trái với ý muốn của người Việt Nam ngoài những trường hợp giao lưu. Nói thêm thì thực tế này buộc người ta phải nghĩ tới việc sưu tầm tư liệu Hán Nôm bên ngoài biên giới quốc gia.
Nhưng thế kỷ XX khác hẳn với các thế kỷ trước ở chỗ sau thiên tai và chiến tranh kho tàng tài liệu Hán Nôm cơ bản không được tái tạo vì người Việt Nam đã chuyển qua dùng một loại chữ viết khác. Đây là tiền đề lịch sử – xã hội cho sự vượt lên của nguyên nhân thứ ba, đặc biệt là từ 1975 đến nay. Khi mà tuyệt đại đa số trí thức và nhân dân không có khả năng đọc hiểu văn bản Hán Nôm, tức không có kiến thức cụ thể thì rất khó mà nói những chuyện như nhận thức hay ý thức về di sản Hán Nôm cho tới nơi tới chốn. Bởi vì cái di sản ấy là một cấu trúc phức hợp mang tính liên thông chức năng rất cao, ngoài phần tài liệu – văn bản vật thể còn có phần phi vật thể, ví dụ ngôn ngữ. Việc sử dụng mảng từ Việt Hán bị xuống cấp trong nhiều năm nay chính là một bằng chứng đấy.
Đến nay (thế kỷ XXI), việc thất tán tài liệu có còn diễn ra hay không, nếu có nó diễn ra dưới hình thức nào?
Nhiều hình thức và mức độ, mà chủ yếu là do sự thiển cận và vô trách nhiệm của con người. Đã có ai đó vớ được một bản sách đồng thời Nguyễn bán ra nước ngoài, đã có ai đó trùng tu đền miếu chùa quán bỏ hết câu đối biển ngạch vốn có để thay bằng câu đối biển ngạch mới, đã có ai đó dùng kỹ thuật vi tính “phục chế” kiểu ngụy tạo một bản Kiều Nôm. Có khi tài liệu Hán Nôm cũng được sưu tầm bảo quản, nhưng vì chủ thể sưu tầm bảo quản coi là “kỳ hóa khả cư” (món hàng lạ có thể bán) nên chúng không phát huy được chức năng xã hội có thể có, đó cũng là một hình thức mất mát. Trong tất cả các trường hợp nói trên, sự xâm hại hay chuyển dịch các tài liệu vật thể đều ít nhiều kéo theo sự mất mát các giá trị phi vật thể, cho nên giống như trong một phản ứng dây chuyền, đã xuất hiện tài liệu giả, văn bản giả, hiện vật giả, hay tệ hơn là nhiều giá trị truyền thống bị đánh tráo chức năng.

Ông có kiến nghị hoặc đề xuất nào về việc sưu tầm, bảo quản và khai thác tài liệu Hán Nôm không?
Nhà nước đã tổ chức nhiều hệ thống để làm những việc đó từ Trung ương tới địa phương, ai mà cải tổ được toàn bộ quy chế hoạt động, thay đổi nổi toàn bộ cung cách tác nghiệp của hệ thống lưu trữ và nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam, có đề xuất kiến nghị gì gì cũng vô ích. Chỉ mong những cá nhân và tổ chức trong các hệ thống ấy làm đúng những điều chính họ đề ra để nhận kinh phí nhà nước thôi thì kể như di sản Hán Nôm ở Việt Nam hiện nay cũng đã gặp may rồi.

DTT thực hiện