Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học - Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học - Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Dịch sách của PLATO và ARISTOTLE


Tia Sáng --- 12:07-18/04/2013 

Nhân sự kiện xuất bản sách của Plato và Aristotle ở Việt Nam

David Pickus*
Thật là một tin mừng đối với những người như tôi khi nghe được tin này. Hai tác phẩm lớn nhất của nền chính trị học phương tây đã được xuất bản tại Việt Nam. Đó là Cộng hòa1 của Plato và Chính trị luận2 của Aristotle.




Lý do khiến tôi vui mừng đến vậy là vì những cuốn sách cũ này không chỉ là những tác phẩm cổ điển từ ngày xa xưa (thế kỷ V và IV trước CN) mà một giáo viên như tôi muốn sinh viên của mình đọc. Mà đó còn là những cuốn sách đòi hỏi mọi người suy nghĩ về tương lai. Thời điểm này, công luận Việt Nam đang bàn thảo về Hiến pháp, cũng như tìm kiếm các cách thức để bảo đảm một Việt Nam có thể tồn tại, phát triển và hạnh phúc trong thế kỷ XXI này, những tranh luận của thế giới cổ xưa là con đường đúng đắn để nhìn nhận thế giới của chúng ta rõ ràng hơn. Cả Plato và Aristotle đều đưa ra những câu hỏi mà thế kỷ XXI cần đặt ra, cho dù chúng ta có thể trả lời chúng theo những cách thức khác biệt hoàn toàn với họ. Tôi muốn đưa ra một vài lý giải đang chiếm ưu thế trong tranh luận này một cách chung nhất.

Tôi sẽ bắt đầu với câu hỏi về hiến pháp. Trong khía cạnh này có vẻ như đây là một câu hỏi về pháp luật đơn thuần, đưa ra ý nghĩa gì đó cho những chuyên gia ở các trường luật và những chuyên viên khác. Tuy nhiên, vì khái niệm về hiến pháp khởi nguồn từ Hy Lạp cổ đại thời kỳ mà Plato và Aristotle sinh sống, nó được nhìn nhận tương xứng với cách mà họ hiểu về khái niệm này. Nó cũng tương xứng với điều mà họ cho là quan trọng nhất trong một bản hiến pháp, và tạo sao những hiến pháp trong thế kỷ XXI lại có vài khía cạnh khác biệt hoàn toàn.

Ngày nay, khi chúng ta nói tới hiến pháp, hầu hết chúng ta đều muốn nói tới khung pháp lý cơ bản; đó là luật pháp cơ bản làm nền tảng cho các bộ luật khác. Theo lý thuyết chung ngày nay - ở các quốc gia khác nhau – nếu có gì đó bị đánh giá là mâu thuẫn với hiến pháp thì sẽ bị hủy bỏ hoặc sửa đổi, cho dù đó có là một bộ luật khác do chính phủ ban hành, hoặc là một thông lệ lâu đời được sự chấp thuận của phần đa trong xã hội đi nữa.
Có một cách giải thích khác là coi những chức năng của hiến pháp như những đường biên của một sân bóng, nhưng tinh vi và phức tạp hơn nhiều. Nếu như không có giao kèo về trận đấu trên sân bắt đầu và kết thúc thì sẽ chẳng ai biết khi nào họ cần hoặc không cần lắng nghe trọng tài. Do vậy, cũng không có giao kèo về các luật lệ chơi bóng, và cũng không có cách thức thống nhất để tổ chức các đội bóng.

Điều làm cho ví dụ này bị giới hạn là đã có một thỏa thuận mang tính toàn cầu về sân bóng, và chẳng có nhiều lắm tranh cãi về các luật chơi đã được chấp nhận. Tuy nhiên, không có hiến pháp có thể chấp nhận được – hoặc những bộ luật thực hiện chức năng như hiến pháp – sẽ thật là khó khăn để đạt tới một thỏa thuận về các quy định cơ bản trong xã hội. Thật khó khăn để biết bộ luật nào cụ thể hơn để thực hiện và tuân thủ, và nói chung người dân sẽ không biết họ có thể trông đợi được điều gì từ chính quyền. Nói một cách ngắn gọn, những nội dung và tư tưởng về hiến pháp cũng chính là mục đích của các nội dung của pháp luật.

Plato và Aristotle hiểu điều này theo cách của họ. Họ sống trong thời kỳ mà bản chất của nhà nước và pháp luật dễ đổ vỡ hơn bây giờ nhiều. Kết quả của sự bất an toàn này là khi họ nghĩ về thứ mà chúng ta gọi là một bản hiến pháp thì họ không hạn chế bản thân trong những câu hỏi thiên về pháp luật và theo nghĩa hẹp. Họ hỏi về mục đích bao quát toàn bộ của pháp luật và những sự dàn xếp về chính trị nói chung. Bởi vì họ đặt ra những câu hỏi cơ bản này khi đã nhận thức được rằng họ không thể chỉ đơn thuần dựa trên mỗi truyền thống. Đó là họ đã nhận ra rằng họ không thể nói rằng “chúng ta nên làm mọi việc theo cách này vì đó là cách chúng ta vẫn thường làm.” Đúng ra là họ đã phải đưa ra những lý do để thuyết phục bất cứ ai lắng nghe, và họ đã phải lôi cuốn cảm xúc rộng mở hơn của chủ nghĩa yêu nước và công lý cho chính dân tộc mình.

Vậy thì điều gì đã khiến những nhà tư tưởng cổ đại nói rằng điều đó vô cùng lý thú? Trong tiểu luận tiếp theo của loạt bài này tôi sẽ giải thích cách thức phản ánh của pháp luật và đạo đức đã dẫn dắt Plato tới tranh luận rằng chỉ có một bản hiến pháp là không đủ, đúng hơn là hiến pháp là một bản kế hoạch cho một xã hội hoàn hảo, và rằng chính bản thân ông đã biết xã hội không tưởng đó như thế nào. Trong tiểu luận sau đó tôi sẽ lý giải cách thức Aristotle tranh luận rằng pháp luật và hiến pháp sẽ vô nghĩa trừ khi chúng ta tìm được cách thức nào đó để đối phó với sức mạnh đen tối của đồng tiền.

Đến giờ, chúng ta có thể nhắc nhở bản thân về điểm mấu chốt: một vài nhà tư tưởng cổ đại đặt câu hỏi về mục đích cơ bản của pháp luật, chính trị và xã hội. Xem xét những câu trả lời của họ là cách thức kích thích bản thân chúng ta đưa ra những câu trả lời tốt hơn của chính mình.

Đặng Ly dịch

Nguồn: 
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=6279
------------------------------

* Trường ưu tú Barrett, thuộc Đại học Bang Arizona
1 Dịch giả: Đỗ Khánh Hoan; NXB Thế giới và AlphaBooks ấn hành
; Giá bìa: 169.000 VND

2 Dịch giả: Nông Duy Trường; NXB Thế giới v�Alphabooks ấn hành; Giá bìa: 119.000 VND

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

KHOAN DUNG


04:01-19/02/2013 
Khoan dung
Cao Huy Thuần

Tu viện Shechen. Nepal, với những chiếc chuông
cầu nguyện bao quanh
Tôi được báo Tia Sáng đề nghị viết bài cho chủ đề “Vốn xã hội ở Việt Nam”. “Vốn xã hội” tự nó đã là một đề tài mênh mang với bao nhiêu lý thuyết khác nhau và bao nhiêu định nghĩa càng ngày càng rắc rối.

“Vốn xã hội ở Việt Nam” lại càng khó quan niệm hơn trên thực tế, vì xã hội chưa thực sự có xã hội dân sự. Thiếu khả năng để đi vào đề tài đề nghị, tôi có thể đứng bên lề góp một bài ngắn mua vui đầu năm ?

Đây là một bài ngắn, rất ngắn và rất đơn giản, tôi vừa đọc trong tạp chí Le Monde des Religions vừa xuất bản, tháng 2 và 3-2013, tôi xin dịch nguyên văn dưới đây. Tác giả của bài viết, Alexandre Jollien, một nhà triết học Thụy Sĩ, thuật lại chuyến thăm viếng tu viện của nhà sư Matthieu Ricard ở Kathmandu, Nepal. Matthieu Ricard quá danh tiếng trên thế giới và quá quen thuộc với độc giả Việt Nam, tôi khỏi phải dài dòng giới thiệu. Chỉ xin nhắc lại rằng ông là nhà khoa học đã từ bỏ Viện nghiên cứu Pasteur ở Pháp để khoác áo thầy tu và trở thành trợ tá cho ngài Đạt Lai Lạt Ma trên thế giới. Dù đứng ở bên lề, tôi cũng sẽ có đôi câu có liên quan đến chuyện “vốn”; tôi sẽ nói ở cuối bài dịch mà nhan đề là “Một bài học về đời sống ở Kathmandu”.

Mùa hè vừa qua, tôi được nhà sư Matthieu Ricard tiếp đón tại tu viện của ông ở Kathmandu. Bước vào tu viện Shechen, tôi thấy chỗ nào cũng là một lời mời gọi của đời sống tịnh khiết. Hôm tôi đến, một bếp lửa nổ tí tách gần lối vào và một làn khói trắng bốc lên cao trên không. Hình ảnh kỳ diệu như muốn mời khách đến thăm hãy xem sự tu hành như nơi chốn rực lên tình thương và tàn lụi dục vọng điên đảo. Matthieu Ricard hướng dẫn tôi gặp các nhà sư đang hăng say biện luận triết lý và mời tôi ngồi ăn cùng bàn với các vị lạt ma. Ở đâu tôi cũng thấy những nụ cười rạng ngời. Không đâu vướng mắc gì với những chuyện phù phiếm của thế sự. Tôi đã được sống những ngày tuyệt đẹp. Và vô cùng thư giãn.

Bây giờ, tôi hiểu rằng hai chất liệu làm nên hạnh phúc, hay khiêm tốn hơn, làm nên niềm vui, đã được tụ họp nơi đây: tu hành với bạn để giải thoát cho mình và làm việc xã hội để giúp người khác. Bên cạnh Matthieu Ricard, tôi hiểu rằng, để sống trong an lành, cần phải biết cả hai, quán tưởng một mình và hành động liên đới. Nơi nhà tu hành văn sĩ này, hai sự cần thiết đó tập trung với nhau trong một cách sống tuyệt vời, đặc biệt, không kiểu cách, rất đơn giản.

Chúng tôi đi thăm một trường học dựng toàn bằng tre. Chỉ với một món tiền chẳng là bao, trẻ em được đi học, được may mắn đổi đời. Chúng tôi đi thăm một bệnh xá hoạt động nhờ nỗ lực của Matthieu Ricard. Tất cả những hoạt động đó nằm trong một tu viện thanh bình. Chúng ta thường hay đối chọi quán tưởng và hành động. Làm như thử hai thái độ ấy đối kháng với nhau, mâu thuẫn nhau. Nhìn các nhà sư trong tu viện, tôi nhận thấy ta có thể tích cực buông xả thực sự ở bên trong và rất uyển chuyển, mở lòng ra ở bên ngoài. Nhưng đâu có cần nhất thiết phải phân biệt bên ngoài và bên trong nhỉ?

Chủ nhân còn ân cần đưa tôi đến gặp một vị sư thầy thuốc đến từ Tây Tạng. Với dáng đi rất yên lặng, mỗi ngày ông đến thăm tôi và đặt vào lưng tôi những ống bầu để xua đuổi những bất quân bình trong cơ thể và mang lại sinh lực cho cuộc sống. Chưa bao giờ tôi gặp một ông thầy thuốc dịu dàng, thanh bình, an lành như thế. Chỉ nhìn ông thôi là đủ lành bệnh rồi. Mỗi lần ông lấy ra một ống bầu đầy hiệu nghiệm ấy, bàn tay ông ngừng lại như thử mỗi cử chỉ của ông đều là thiêng liêng. Một hôm, ông thấy dưới đất cây thánh giá nhỏ mà tôi hằng mang theo trong mình. Bằng một thứ tiếng Anh vừa học, ông nói: “Ông phải kính trọng hơn nữa cái này”. Rồi rất long trọng, ông lượm thánh giá lên, nâng trên hai bàn tay để đặt trên bàn cạnh giường tôi nằm. Ông cắt nghĩa cho tôi rằng sức khỏe của tôi tùy thuộc ít nhất là 50% vào tâm linh của tôi. Và ông khuyến khích tôi cầu nguyện Thượng Đế của tôi sâu lắng hơn nữa. Tấm lòng rộng rãi của ông làm tôi xúc động vô tả. Một tín đồ của một tôn giáo thúc đẩy một tín đồ của một tôn giáo khác cầu nguyện thêm nữa, quả là chứng từ của một đầu óc rộng và một trái tim lớn. Từ đó cho đến nay, không ngày nào tôi không đọc một trang của nhà ẩn tu Thiên Chúa giáo Eckhart mà tôi đã khám phá lại trong chính quê hương của đức Phật. Nhà bí tu ấy mời gọi tôi đến với sự thanh bình, sự buông xả, đến với tự do mà nụ cười của các vị sư ở Nepal và hai cánh tay mở rộng đón chào của họ đã đánh thức dậy trong lòng tôi.

Bên cạnh ông thầy thuốc của tôi, bên cạnh Matthieu Ricard, đời sống vén ra cho tôi thấy tất cả vẻ đơn sơ và dịu dàng. Tranh chấp đã chấm dứt để một đầu óc trẻ thơ được hồi xuân - trẻ thơ chứ không phải ấu trĩ một chút nào.”


Tôi nghĩ đây không phải chỉ là “vốn”. Đây là cả gia tài của một dân tộc. Đây là cả một nền văn minh. Nền văn minh ấy, cái “vốn” ấy của cả một dân tộc đang bị một chính sách đồng hóa dần dần hủy diệt. Tổ tiên của chúng ta đã lâm vào cảnh ấy trong suốt lịch sử. Cho nên, hơn ai hết, chúng ta đau lòng.

Chúng ta càng đau lòng thêm khi cái “vốn” ấy cũng cùng một thể với cái “vốn” của chính chúng ta. Có dân tộc nào khoan dung hơn dân tộc chúng ta? Vậy mà con cháu cứ chiến tranh hoài trong tư tưởng. Có cái “vốn” nào lớn hơn sự hòa hợp dân tộc? Sao vẫn hoài phân ly? Dù được định nghĩa dưới dạng văn hóa, kinh tế hay xã hội, không có cái vốn nào vĩ đại hơn nụ cười, sự thanh thản, và hai cánh tay mở rộng.


Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

KHI NÀO GIẬN ÔNG...


Trang Web của Viện Trần Nhân Tông (http://trannhantong.net) có nhiều bài bổ ích. Rất trân trọng tình cảm và công việc của cựu TBT VietnamNet Ng. Anh Tuấn (http://trannhantongprize.org/2012/06/nguy%E1%BB%85n-anh-tu%E1%BA%A5n/). Vui mừng khi thấy có sự đóng góp của Thiền sư Lê Mạnh Thát (http://trannhantongacademy.org/2012/04/08/le-m%E1%BA%A1nh-that/). Copy bài này về đây để đọc lại khi... tức "bà hàng xóm".



Gieo ht tng ngày

THÁNG TÁM 20, 2012 8:54 CHIỀU


 Tác giả: lananh

Ngày xưa, có hai vợ chồng nọ sống với nhau rất nhiều năm. Vào những ngày cuối đời, bà phải nằm trong viện dưỡng lão. Một hôm, khi biết rằng bà sắp phải chia tay với mình, ông hỏi bà có điều gì dặn dò ông không. Bà đáp: “Ông hãy lấy hộp giày tôi đang để dưới giường. Trong đó tôi cất một món đồ mà lâu nay tôi giấu ông.”

Ông chồng khệ nệ bưng hộp giày lên. Ông hỏi: “Trong đây có gì mà xưa nay, tôi thấy bà luôn đem theo bên mình. Vì tôn trọng nhau nên tôi không mở ra xem.” Bà đáp: “Trong đây có một con búp bê nhỏ và một số tiền tôi dành dụm được.” Ông hỏi tiếp: “Tại sao bà lại có con búp bê và số tiền này?” Bà trả lời: “Trước khi tôi về nhà chồng, mẹ tôi có dặn tôi rằng khi nào tôi giận ông, tôi đừng nói năng chi, chỉ cần đem len ra đan một con búp bê.’
Nghe bà giải thích xong, ông tự tay mở hộp ra và thấy một con búp bê. Nước mắt đầm đìa, ông nói với bà: “Hóa ra mấy mươi năm chung sống với tôi, bà chỉ giận tôi một lần thôi!” Rồi ông hỏi tiếp: “Còn số tiền này, bà nói đã dành dụm được. Làm sao bà có được số tiền lớn như thế này?” Bà đáp: “Đó là số tiền tôi bán những con búp bê tôi đan khi giận ông!” Ông nghe xong, hiểu ngay bà đã giận ông rất nhiều lần, nhưng nhờ nghe lời mẹ dạy, bà không làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình.
Câu chuyện trên cho chúng ta đôi điều để học trong cuộc sống hằng ngày. Khi chúng ta giận, nếu không có việc gì khác để làm, chúng ta sẽ dồn hết tâm sức để “chăm sóc” nỗi giận ấy. Làm vậy chẳng khác nào chúng ta tự đầu độc, hay tự sát. Vì thế, khi những tâm hành có tính tiêu cực như lo âu, phiền muộn có mặt, chúng ta nên tìm việc khác mà làm. Đây là một pháp tu thể hiện sự trân quý đời sống của chính mình bằng cách không gieo hạt giống mang tính tiêu cực vào tâm thức, và không tạo điều kiện cho tâm hành tiêu cực xuất hiện, tàn phá đời sống của chúng ta và của người thân.

Câu chuyện còn dạy cho chúng ta biết trong “động” rất dễ có được “tĩnh”. Khi bà vợ giận chồng, bà dùng công việc “động” đan búp bê đễ giữ được tâm “tĩnh”. Chúng ta cũng vậy, khi chân tay hoặc trí óc làm việc, tâm của chúng ta rất dễ yên. Ngược lại, nếu chúng ta không làm chi cả, tình trạng “vô công rồi nghề” rất dễ phát sinh “nhàn cư vi bất thiện”; chúng ta dễ làm những điều vụng về, làm tổn thương đời sống mình, và đời sống những người chung quanh. Do vậy, là người ham tu, mỗi ngày chúng ta nên kiếm cơ hội để vận động chân tay và trí óc. Làm được vậy, chúng ta vừa có cơ thể khỏe mạnh, vừa có được tâm an. Một khi chúng ta có năng lực từ tâm tịnh lạc, năng lượng đó dễ dàng lây lang trong môi trường xung quanh, khiến người thân cũng được hưởng lợi, hoặc khiến người thân thay đổi hướng thượng như ý mình muốn.
Tóm lại, chúng ta đến nhân gian này, người quen cùng kẻ lạ, tất cả gặp nhau một chút rồi chia tay. Từng ngày hãy gieo vào tâm thức những hạt giống thiện lành, thay vì phá hoại cuộc sống mình và người bằng những tâm hành tiêu cực! Hãy sống hết lòng với nhau để khi phải chia tay, chúng ta không hối hận vì đã gây phiền muộn biết bao nhiêu lần cho người thân; khiến mỗi lần giận, người thân phải đan một con búp bê. Giống như ông chồng trong câu chuyện, khi nước mắt đầm đìa xin lỗi vợ, lúc ấy đã quá muộn. Từng ngày gieo hạt giống lành thiện đâu phải là đạo lý cao siêu của nhà Phật, chỉ là quan niệm sống bình thường mà người thông minh nào cũng làm được.

Thích Phước Tịnh



Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

VỀ GS HOÀNG NGỌC HIẾN


Hôm qua 21-8-2012 lần đầu tiên đến thăm và uống trà - cà phê ở "Thư viện Cafe Sách Đông Tây" - nhà cao tầng 11A phố Trần Quý Kiên - Cầu Giấy (gần nhà bác Đạt). Không gian tĩnh lặng, quạt mát, nhạc nhẹ đâu đây, làm lòng người thư thái, dù là đọc sách, dù là uống trà...


Mình mua kỷ niệm trên giá "sách 10.000 đ" quyển "Francois Juilien & Nghiên cứu so sánh văn hóa Đông Tây" của GS Hoàng Ngọc Hiến mà giá bìa là 35.000 đồng. Đọc thấy ngợp và chậm, tất nhiên bổ ích và thú vị, thế mà tiền mua sách chưa bằng ly trà Dilhman (15K). Quả là tri thức ngày nay rẻ... kém bèo. 
Bèn search trên mạng lấy mấy bài về GS Hiến để nghi nhớ công lao của Ông đối với "minh triết Việt".


GS Hoàng Ngọc Hiến qua lời kể của các học trò

(Dân trí) - 















































Thứ Bẩy, 07/07/2012 

Tối 4/7, tại trung tâm Văn hóa Pháp đã diễn ra buổi tri ân GS Hoàng Ngọc Hiến với sự góp mặt của rất nhiều Giáo sư, Tiến sĩ... từng là học trò hoặc là người ngưỡng mộ cố Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến.

Trước gi ta đàm, Hà Ni mưa ln, nhng tưởng s làm nht lòng nhng người đến tham dự, nhưng không, khán phòng nơi din ra ta đàm vn cht kín ch ngi. Đến tham d ta đàm, không ch có nhng bn văn, nhng người anh em, nhng người hc trò ca người giáo sư, người thy Hoàng Ngc Hiến, mà còn có nhiu cơ quan báo đài, nhiu gương mt tr có, già có là nhng người quan tâm và kính phc nhng đóng góp ca thy cũng đu có mt đúng gi.
Giáo s
Giáo sư Hoàng Ngc Hiến sinh ngày 21/7/1930 ti ph Hàng Nâu, thành ph Nam Đnh. Sinh ra trong mt gia đình có truyn thng Nho hc kết hp vi Tây hc, có l vì thế mà ông có th tiếp cn mt cách d dàng nhng kiến thc t c lý trí ca phương Tây và trc giác cũng như tâm linh ca phương Đông.
Năm 1959, ông là mt trong năm người được c đi làm lun văn tiến sĩ vvăn hc Nga ti trường Đi hc tng hp Mát-xcơ-va, Liên Xô cũ; và ông cũng là mt trong năm người đã bo v thành công lun án tiến sĩ văn hc lúc by gi.
Năm 1979, ông thành lp trường Viết văn Nguyn Du và gi cương v Hiu trưởng trong nhiu năm lin ti đây. Đến tn lúc gn cui đi, ông còn cùng vi giáo sư Nguyn Khc Mai thành lp nên Trung tâm Nghiên cu Minh triết Vit năm 2007. Ông mt do bo bnh vào đêm khuya ngày 24/1/2011.
Nói v Giáo sư Hoàng Ngc Hiến là nói v mt con người có nhiu danh xưng, nhà giáo, nhà phê bình, nhà văn, dch gi, nhà nghiên cu…,  tên gi nào thì giáo sư Hoàng Ngc Hiến cũng có nhng đóng góp sâu rng. Chng vy mà giáo sư Phm Vĩnh Cư - người hc trò yêu ca giáo sư Hoàng Ngc Hiến trong bui ta đàm ngày 4/7 va qua đã khiêm nhường nói: “Tôi không phi là Giáo sư, tôi không phi như anh Hoàng Ngc Hiến, được bn bè trong nước và quc tế thán phc, tôn vinh là Giáo sư, tôi cùng lm, ch đáng là Phó Giáo Sư thôi, chưa xng đáng là Giáo sư”.
Giáo s
Giáo sư Hoàng Ngc Hiến đ li cho đi hơn 30 công trình nghiên cu hoàn chnh gm nhiu tiu lun, kho cu, sách dch, chuyên đ… và còn rt nhiu bn tho còn dang d. Ông được biết đến như mt người chuyên đt câu hi, chuyên gây tranh cãi. Giáo sư Nguyn Khc Mai hin đang là Giám đc trung tâm Minh triết Vit chia s: “Hoàng Ngc Hiến là con người ca nhng câu hi, mà li là câu hi đúng. Cái bt hnh ca con người là hay hi nhng câu hi sai, ri dn đến câu tr li sai. Nhưng, Hoàng Ngc Hiến thì luôn hi đúng.”
Ngoài nhng din gi chính được mi đến tham d ta đàm là GS Phm Vĩnh Cư; GS Nguyn Khc Mai; nhà thơ, nhc sĩ Nguyn Trng To; nhà phê bình văn hc Đ Lai Thúy; TS Trn Thu Dung, dưới s ch ta ca nhà văn Đà Linh thì còn rt nhiu nhng din gi “t nguyn” khác, là nhng nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cu trng tài trng tm lòng ca GS Hoàng Ngc Hiến có mặt tại sự kiện này.
Nhng din gi “t nguyn” như là nhà văn Đng Thân, nhà văn Nguyn Thy Kha, nhà phê bình Li Nguyên Ân, nhà thơ, nhà văn Nguyn Huy Thip, nhà văn Văn Chinh, nhà thơ Hu Thnh… đã đem đến ta đàm nhng tham lun chi tiết ca mình v GS Hoàng Ngc Hiến, nhưng do khuôn kh chương trình b hn chế v thi gian, nhng tham lun này biến thành câu chuyn ca nhng chia s, nhng k nim đáng nh v v GS này.
Đ
Đi vi người din gi nào thì cũng là nhng người không hàm ơn trc tiếp GS Hoàng Ngc Hiến thì cũng là nhng người hàm ơn gián tiếp ông. Bi vy, đi vi h, mi k nim vi ông đu đáng quý, đáng trân trng, chng th nào quên trong sut cuc đi ca h. Trước nhng li phát biu ca các din gi, bà Nga, v ca GS Hoàng Ngc Hiến ch ngi lng im nghe. Riêng đến khi nhà thơ nhà văn Nguyn Huy Thip đc bài thơ phú ca ông v GS Hoàng Ngc Hiến, nhng git nước mt ca bà lng l rơi trên hai khóe mt đã đ nhăn nheo vì tui già.
Trong cuc đi nghiên cu ca GS Hoàng Ngc Hiến, có l điu gây nhiu sóng gió cho bn thân ông nht, chính là đnh nghĩa “ch nghĩa hin thc phi đo”. K t khi ông công b đnh nghĩa này trên văn đàn, cuc đi ca ông gp nhiu thăng trm. Có ý kiến cho rng, nếu ông không công b đnh nghĩa này ra, có l, s nghip ca ông còn có nhiu danh li và đa v hơn na; trái li, cũng có ý kiến không đng tình, cho rng, chính nh cái đnh nghĩa “chnghĩa hin thc phi đo” y mà GS Hoàng Ngc Hiến mi có được tiếng vang ln như ngày hôm nay.
Nói v nhng bn dch ca GS Hoàng Ngc Hiến, không ai không tha nhn nhng bn dch y va đm cht thun Vit, va gãy gn, khúc triết, li hết sc tương đng vi bn gc. Nhiu thế h dch gi tìm đến nhng hướng dn cũng như nhng kiến thc dch thut mà ông chia s qua nhiu ngun khác nhau. Nhiu người dù không hc ông ngày nào, cũng gi ông bng danh xưng tôn kính: Thy Hoàng Ngc Hiến.
Buổi toạ đàm còn có sự góp mặt của vợ cố Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến
Buổi toạ đàm còn có sự góp mặt của vợ cố Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến
Người hc trò khóa 1 hết sc yêu quý gia đình GS Hoàng Ngc Hiến, nhà thơ Hu Thnh khng đnh: "Chúng ta còn phi tiếp tc v chân dung v GS Hoàng Ngc Hiến bi GS Hoàng Ngc Hiến tiêu biu v nhiu phương din”. Qu vy, chng th nói GS Hoàng Ngc Hiến tiêu bi mt phương din đơn l nào, mà trong tt c nhng lĩnh vc ông tham gia, ông đu là mt cá nhân xut chúng. Có l ch có th nói GS Hoàng Ngc Hiến là mt hc gi ln ca Vit Nam đương đi".
Trước câu hi ca mt bn tr dành cho GS Nguyn Khc Mai v vic các nhà nghiên cu s làm gì đ tiếp ni nhng công sc ca GS Hoàng Ngc Hiến đ li, ông tr li mt cách chân thành nht có th: “Chúng tôi s tiếp tc ch, nhưng chúng tôi gi gm, nh cy các bn tr hãy cùng nhau nghiên cu nhng điu còn dang d mà Hoàng Ngc Hiến đ li”.
GS Hoàng Ngc Hiến đã sng mt đi cng hiến cho nhng nghiên cu, nhng công trình ca mình. Đến lúc cui đi, bnh tt cũng chng th làm ông nao núng vào phút lâm chung. Nhà thơ Hu Thnh, người hc trò duy nh bên cnh GS lúc chia xa nghn ngào: “Phút lâm chung ca người sp ra đi sao li thanh thn đến như vy. Gương mt ông hin lên đy đ chân dung ca mt con người thanh thn, biết mình là thế nào, đi là thế nào. Có l, thy không bao gi phi đi tìm câu hi mình là ai, đi là gì c”.
Cố GS Hoàng Ngọc Hiến
Cố GS Hoàng Ngọc Hiến
Bui ta đàm kết thúc vi li chia s ca nhà phê bình văn hc Đ Lai Thúy. Mt phn nào đó, nhng người bn, người anh em, người hc trò ca GS Hoàng Ngc Hiến đã tha lòng khi được cùng ngi li bên nhau tri ân công lao ca người bn, người anh em, người thy Hoàng Ngc Hiến, cùng nhau ôn li nhng k nim ca riêng mi người, mà trong đó, nhân vt trung tâm vn c luôn là GS Hoàng Ngc Hiến.
Hơn 2 gi din ra ta đàm dường như là không đ đ h bàn lun, đ hc trò chuyn vi nhau, trò chuyn cho nhng người tham gia ta đàm nghe, biết, và hiu thêm phn nào v người thy, người giáo sư đáng kính Hoàng Ngc Hiến. Nhưng, ai ai cũng hiu sâu sc thêm v s dng công, v mong mun con người ta ngày mt lương thin, t tế. Bi suy cho cùng, người ttế là người mà ông luôn mun tìm đến.
Bình Yên