Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2012

VỀ chương NHÃ CA ở CỰU ƯỚC


http://khoahocnet.com/2012/12/07/ts-pham-trong-chanh-van-de-nan-giai-dich-chuong-nha-ca-trong-cuu-uoc-tac-pham-my-tinh-duc-tuyet-tac-cua-nhan-loai/



TS PHẠM TRỌNG CHÁNH – VẤN ĐỀ NAN GIẢI DỊCH CHƯƠNG NHÃ CA TRONG CỰU ƯỚC. TÁC PHẨM MỸ TÌNH DỤC TUYỆT TÁC CỦA NHÂN LOẠI

kinhthanhcuuuocNhã Ca là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ tình, mỹ tình dục nói lên lời yêu đương tình cảm và thân xác đôi trai gái. Một tác phẩm tuyệt tác trong kho tàng văn học nhân loại. Vào thời đại đồ sắt, nước Do Thái bị chia đôi làm hai nước và 12 bộ tộc, để thống nhất dân tộc Do Thái bị chia rẽ, ảnh hưởng việc vua Ai Cập đương thời chủ trương một vị thần duy nhất là thần Mặt Trời, thay vì hàng ngàn thần, vị vua đương thời Josias đã đề ra 7 điều thống nhất: Một vị thần Yavée duy nhất cho dân Do Thái, một dân tộc duy nhất, một vị vua duy nhất, một bộ sách giáo khoa  duy nhất, một thủ đô duy nhất là Jérusalem, một ngôi đền duy nhất, một nghi lễ tôn giáo Do Thái Giáo duy nhất. (Xem Israël Finkelstein et Neil Asher Silberman. La Bible dévoilée. Bayard. Paris 2002.)
Bộ sách giáo khoa Cựu Ước duy nhất của dân tộc Do Thái, được các « học giả tiên tri » đương thời san định từ 39 quyển sách chép tay trên da cừu.. Gồm bốn đề mục: 5  quyển sách của Moise, 12 quyển sách về các vua Do Thái, 5 quyển sách văn thơ , và 17 quyển sách các tiên tri. Còn khoảng 40  quyển khác có kể tên nhưng đã thất truyền. Sự ra đời của Cựu Ước đồng thời tại nhiều nơi trên thế giới, chữ viết đã hoàn chỉnh, chữ viết đầu tiên của nhân loại được tìm thấy trên thẻ đất nung vùng Lưỡng Hà, trên mui rùa tại Trung Quốc. Tại Trung Quốc Khổng Tử san định Tứ Thư, Ngũ Kinh chép trên các thanh tre (thanh sử).  Tại Ấn Độ các nhà sư Phật Giáo tổ chức kết tập kinh điển ghi chép những lời Phật dạy chép trên lá bối, lá buôn và kết lại bằng hai sợi dây hai đầu gọi là kinh. Tại Hy Lạp, Thơ Homère được ghi chép trên giấy da,  Aristote chép lại những lời dạy của Socrate, Platon.Tại Ai Cập sách Tử Thư viết về việc ướp xác, dẫn hồn người đi về cõi bất tử, chép trên giấy thủy trúc, dòn dễ gảy. Nền văn minh Hy Lạp đã tiếp nối Ai Cập thiết lập tại Alexandrie và Athène những thư viện đầu tiên với hàng trăm ngàn cuộn sách da. Hiện nay trong số 1600 văn bản giấy da trước công nguyên, tìm thấy được ở Ai Cập, phân nửa là văn bản thơ Homère. Có hai vùng biết làm giấy trong thời đại này là vùng Ai Cập làm giấy bằng cây thủy trúc và  Nam Trung Quốc, Giao Châu làm giấy bằng vỏ cây dó, cây tràm. Ngày xưa chưa có kỹ thật để nghiền gỗ thành bột giấy, kỹ thuật làm giấy thủ công nghệ dùng thân cây thủy trúc mềm, lột vỏ cán mỏng, hay vỏ cây dó cây tràm bốc ra thành từng tờ, dùng một lớp nhựa cây, hay bột nấu là có thể kết dính thành giấy như làm bánh tráng. Nhưng giấy tại Giao Châu mềm và bền hơn.  Thế kỷ thứ 10, thương thuyền Á Rập, bắt cóc được một người Giao Châu đem về để dạy nghề làm giấy, từ đó kỷ thuật làm giấy tại các nước Á Rập phổ biến sang  Tây Phương.
Năm quyển sách văn thơ trong Kinh Thánh gồm: Gióp, Thi Thiên, Châm Ngôn, Truyền Đạo và Nhã Ca.
Tương truyền chương Nhã Ca của Vua Salomon, nhưng có lẽ là những bài thơ vua Salomon ưa thích thì đúng hơn, vì các bài thơ tả tình yêu của một cô gái thành Jerusalem với một anh chăn cừu, và có đoạn tả vua Salomon, lẽ nào vị vua lại tả mình.  Chương Nhã ca gây rất nhiều tranh luận, và làm khó chịu các nhà tu hành Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo. Vì sao một quyển sách nhỏ thơ dâm tình, hay mỹ tình dục lại lọt vào bộ sưu tập Thánh Kinh ? Có người cho rằng nó dùng để hát trong nghi lễ động phòng hoa chúc. Có người cho đó là tình yêu của Chúa với Giáo Hội, hay Chúa với dân tộc Do Thái. Tuy nhiên toàn bộ các bài thơ này không có câu nào cầu chúa, hay lời của chúa, mà chỉ nói chuyện tình yêu, tình dục tự nhiên, không theo phép tắc lễ nghĩa đương thời, nhất là luật Do Thái, trai gái giữ trinh tiết trước khi hôn nhân . Các bản dịch cố gắng giảm bớt những sống sượng, thay vì gọi là âm hộ thì gọi là cái rún hay ổ gà « Rún nàng giống như cái ly tròn, rượu thơm không có thiếu » Thánh Kinh, Nhã Ca tr 794 . Bài thơ thứ chín lược dịch động tác làm tình lộn ngược 6,9 : «  Và ổ gà mình như rượu ngon.. Chảy vào dễ dàng cho lương nhơn tôi. Và tuôn nơi môi kẻ nào ngủ. » Kinh Thánh, Nhã Ca 7 :6 trang 795.
Trong tiến trình văn minh của nhân loại, sau thời gian xuất hiện khoảng 5 triệu năm của con người, văn minh nhân loại chỉ xuất hiện mới khoảng 5000 năm với nền văn minh Ai Cập, từ ba ngàn năm nay sự tiến bộ nhân loại ngày càng nhanh chóng với sự ra đời các tôn giáo, chữ viết, các bộ sách, các trường ca, sử thi.. Các bộ tộc thành hình từ những đơn vị một vài chục ngàn dân, cai trị bởi một người có sức mạnh nên sống lâu hơn những người khác, thuở ấy nhân loại chỉ thọ trung bình khoảng 30 tuổi, nhưng thời ấy chưa phát minh ra số, các chữ viết con số có nguồn gốc tại Ấn Độ thời Đức Phật. Do đó trí nhớ người thời cổ đại trong Thánh Kinh Do Thái thường gán cho họ sống 400, 500, 200 năm, ông Bành Tổ của Trung Quốc sống đến 900 năm. Yahvé của dân tộc Do Thái có nguồn gốc là một thầy mo, thầy phù thủy, thầy đồng bóng, hay còn gọi là tiên tri,  lãnh tụ của bộ tộc tương tự như vua Hùng Vương của  Việt Nam ta,  có nguồn gốc là một người có sức mạnh giết được con cá sấu hung dữ (đánh thủy quái), chặt được cái cây to lớn (đánh mộc tinh), đánh bẩy được con cáo khôn ngoan phá hoại mùa màng (đánh hồ tinh).. được dân chúng kính phục tôn làm lãnh tụ. Các « tiên tri » làm được các phép lạ, biết dùng cây cỏ chữa bệnh, biết dùng phân dơi làm nổ, bốc cháy hay học được phép đi trên lửa, cầm than hồng trên tay,  chạy phóng nhanh trên núi, chạy lướt trên nước (điều này không lạ với sự luyện tập phái võ Thiếu Lâm, hay các nhà sư Tây Tạng..) Tiên tri, thầy mo, thầy phù thủy, ông đồng, bà bóng có mặt khắp các nền văn minh, nối dây liên hệ giữa người sống và người chết. Ngày nay chúng ta nhìn với cặp mắt hiện đại nhìn việc « lên đồng » là « mê tín », nhưng lên đồng có một vai trò rất quan trọng trong lịch sử văn minh con người. Vì bản năng con người do sự chống chọi với thiên nhiên, bảo vệ sinh tồn của mình nên rất hiếu chiến, hiếu chiến với các bộ lạc khác, và hiếu chiến cả với những người lân cận, người lên đồng dựa trên sự quan hệ với thần thánh, để thiết lập sự cai trị.  Ở vùng cận đông gọi là các nhà tiên tri, họ là người tự nhận có năng khiếu mặc khải được với thần thánh. Họ là người duy nhất tiếp xúc được với thần thánh, sau một nghi lễ cúng tế múa may, thần nhập vào họ phán truyền. Những điều được xem là lời Chúa, lời Yahvé, truyền qua lời các tiên tri. Ở Hy Lạp nên văn minh tiến xa hơn, nơi đầu tiên hình thành các khoa học,  họ xem « lên đồng » là nguồn gốc của kịch nghệ, người kịch sĩ viết kịch nhập vai nhân vật, và họ đùa bởn cả với các thần thánh Hy Lạp. Trong Odyssée của Homère có đoạn biểu diễn một vở hài kịch thần Vệ Nữ ngoại tình với thần Chiến tranh, bị chồng là Thần Hoả Thái làm máy bẩy trên giường bắt nhốt hai thần dính vào nhau không cục cựa được, phải nhờ các thần khác hoà giải, bảo lãnh mới được tha.
Trong buổi bình minh con người, người tiên tri «  lên đồng » thiết lập trật tự trong cộng đồng : Ví dụ Anh A đánh anh B mù mắt, hay gảy răng, qua hôm sau anh B trả thù, ăn gan, uống máu anh A, bỏ anh A vào nồi nấu, hay « xơi tái ». Các sự kiện này vẫn còn xãy ra ở các bộ tộc các đảo Thái Bình Dương, hay Châu Phi cách đây vài chục năm. Làm thế nào để người tù trưởng thiết lập luật lệ :   Anh A đánh B mù con mắt, thì B chỉ có quyền đánh A lại mù mắt. A đánh B gảy răng, thì B đánh A lại gảy răng không có quyền bỏ A vào nồi ăn thịt. Tù trưởng mà ăn nói lơ mơ, có khi B sẽ ăn thịt cả tù trưởng. Để thiết lập uy quyền tù trưởng, ban đêm đốt lửa lên đồng, uống rượu hay dùng các cây cỏ kích thích, nhảy múa và đóng kịch : Thần Yahvé hiện ra phán rằng : « A đánh B đui một mắt, thì B đánh lại A đui mắt, A đánh B gảy răng thì đánh lại nó gảy răng, mi ăn thịt nó sẽ bị Yahvé trừng phạt móc cổ mi ói mửa ». Yahvé là thần khai sáng cả vũ trụ, sanh ra muôn loài, chúa tể vũ trụ, chẳng ai biết ; nhưng ói mửa là việc có thật do ăn thịt sống không tiêu, nên rạp mình cầu xin Yahvé tha tội, và được tiên tri  cho cây lá chữa bệnh. Tấm gương B bị Yahvé trừng phạt được loan truyền thế là luật : « mắt thay mắt, răng thay răng » được thiết lập.
Yahvé xuất thân là người thủ lãnh có làm nhiều điều tốt, dân chúng nhớ ơn, nên các đời sau khi có điều gì khó khăn đều lên đồng, cầu Yahvé qua miệng người tiên tri phán xét : Kinh Ê sai, Thánh Kinh trang 800 3 :16 ta nghe lời lẽ một người «  lên đồng » mắng các cô gái Si ôn lẵng lơ :
« Đức Giê hô va phán rằng :
« Vì những con gái Si ôn kiêu ngạo, ngóng cổ bước tới, liếc mắt trêu ngươi, vừa đi vừa ỏng ẹo, vừa khua động tiếng dưới chơn, nên Chúa sẽ làm cho đỉnh đầu con gái Si ôn đóng vẩy và Đức Giê hô va sẽ lột truồng chúng nó. »
Thời cổ đại, vùng Sion ít sông suối các cô gái ít tắm gội, tóc dài trùm khăn kín cả người, bị gàu đóng vẩy trên đầu, ngứa ngáy. Quen trùm khăn đen cả người chỉ thấy có hai con mắt, bị Yahvé doạ lột truồng là một « hình phạt khủng kiếp ». Chương Khải Huyền nói về tận thế chúng ta thấy tiên tri hay người lên đồng dùng ma túy kích thích, nên hình ảnh chập chờn, nói lên những lời siêu thực.
« Đoạn, tôi thấy ở dưới biển lên một con thú có mười sừng, bảy đầu, trên những sừng có mười cái mão triều thiên và trên những đầu có danh hiệu sự phạm thượng. Con thú tôi thấy đó giống như con beo, chơn nó như chơn gấu, miệng như miệng sư tử và con rồng đã lấy sức mạnh, ngôi và quyền phép lớn mà cho nó… » Khải huyền 12.12 tr 318.
Đồng thời với Thánh Kinh, trong Truyện Thơ Odyssée của Homère, Ulysse, vua một bộ tộc Hy Lạp đảo Ithaque cũng cầu tiên tri Tirésias để báo cho các biến cố sắp đến, và gặp lại mẹ đã mất, cũng như gặp lại hồn các phu nhân, các anh hùng Hy Lạp. (Xem  Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh. Truyện Thơ  Odysée. Thi hào Homère qua 12110 câu thơ lục bát. Khuê Văn Paris 2005 ; tr 85-195.)
Trong Sử thi Iliade, tiên tri Calchas đi theo đoàn quân đánh thành Troie, khi khai quân, khi có trận dịch, hay khi có điềm chim trời, thường cầu đảo, cúng tế để tìm ra câu giải đáp : (Xem Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh. Sử thi Iliade Thi hào Homère qua 16933 câu thơ lục bát. Khuê Văn Paris 2009.)
Thời thượng cổ, con người sống rất đơn sơ. Người ta chỉ biết có mẹ, mà không biết có cha. Loài người còn sống trần truồng sống hái lượm cây trái trong rừng, sau khi ăn xong bên đống lửa thì thích ai làm tình nấy, nên không biết ai là cha. Dần dà việc săn thú ăn thịt làm bộ óc con người phát triển hơn, đàn ông đi săn trở nên có sức mạnh họ dành riêng những người đàn bà cho mình. Nhưng loài người vẫn còn đa thê, đàn ông nhiều vợ. Từ đó mới có tình yêu nam, nữ. Đến  Đức Jésus dạy dỗ gia đình chỉ một nam, một nữ và tình thương yêu và gia đình, một tiến bộ nhân bản của nhân loại. Giá trị đó ngày nay trở thành luật lệ và đạo đức cho toàn nhân loại. Và ngày nay chúng ta dùng giá trị đó để phát xét lại các thời đại trước.
Bản năng con người có nhiều động thái súc vật, tiềm ẩn, không chỉ tham sân si, mà còn dục vọng, thích ăn thịt người, thích dâm dục. Một vị Tổng Giám Đốc ngân hàng quốc tế FMI, tài giỏi biết bao, dân chúng Pháp sẵn sàng bầu làm Tổng Thống, thế mà không kiềm chế nổi cái dục, để cô bồi phòng xấu xí kiện cáo, thế là sự nghiệp tan tành ra mây khói. Một quan tòa, đang giữa phiên toà bổng rơi vào tình trạng mất trí, ngồi thủ dâm. Một sinh viên tiến sĩ Nhật du học tại Pháp, con một nhân vật quan trọng Nhật Bản, ăn thịt một cô bạn người Hoà Lan tại Paris. Một thanh niên người Đức tìm người để ăn thịt trên internet, thế mà cũng có người tìm đến để được ăn thịt.. Không phải chuyện cách đây hai ba ngàn năm mà là chuyện trong thế giới hiện đại.
Nghi lễ ăn mình Chúa, uống máu Chúa trong Thiên Chúa Giáo, đáp ứng được nhu cầu bản năng con người thời nguyên thủy  còn tồn tại trong mỗi cá nhân, thích ăn thịt uống máu lẫn nhau. Chương Nhã Ca trong Thánh Kinh đáp ứng nhu cầu thích nói chuyện dâm tục trong mỗi con người, người nông dân gặp nhau sau vụ gặt, nói chuyện với nhau rồi cũng đem chuyện dâm ra đùa bởn, ngày nay bạn bè cũ lập lại thành một mạng trên internet, trao đổi nhau thế nào cũng có những chuyện cười dâm tục. Chương Nhã Ca trong Thánh Kinh đáp ứng nhu cầu tiềm tàng dâm tục của con người.
Trong các tác phẩm dân ca văn chương của người da đỏ tại Mễ Tây Cơ, Péru.. họ mô tả cảnh làm tình, tinh trùng bắn tung tóe vào mặt rất tự nhiên. Tại Ấn Độ những đền tháp Khajuraho  đầy tượng điêu khắc cảnh làm tình tập thể, người lớn với con nít, trai gái lẫn lộn cả cảnh ngựa với người, voi với người thật  hổn loạn, làm cho người nhìn cho đã đời no nê cái bản năng dâm tục tiềm ẩn trong mỗi người.
Thiên Chúa Giáo có nguồn gốc từ Do Thái Giáo, Chúa Jésus giảng dạy những điều không ngoài bộ sách này, nhưng bản tính cương trực, đuổi các người buôn bán thần thánh ra khỏi nhà thờ, nên không được các lãnh đạo Do Thái Giáo đương thời chấp nhận, nên họ vu cáo là “cách mạng” chống chính quyền đô hộ của La Mã đương thời. Chúa Jésus bị bắt và xử tử đóng đinh năm 33 tuổi. Các môn đệ bị truy lùng với lòng mơ ước Jésus không chết, còn sống sẽ trở lại, phải lẫn tránh đi khắp nơi để truyền đạo qua khắp các nước Cận Đông, họ bị bức tử, cấm đạo khắp nơi, người ngoài dân tộc Do Thái ngày một nhiều và biến thành một tôn giáo cả hoàn cầu. Nhưng tôn giáo này  vẫn giữ bộ sách nguyên thủy làm sách duy nhất của dân tộc Do Thái giảng dạy ngày nay gọi là Cựu Ước và Tân Ước gồm 27 quyển  là 4 môn đệ kể chuyện Chúa Jésus và lời Thánh Paul được xem là người tổ chức sáng lập tôn giáo. Khác với các kinh điển đạo Phật, đạo Khổng chỉ dạy lời đạo đức ; Quyển Cựu Ước kể trong sách tất cả những xấu xa, tội lỗi của cuộc đời : chuyện anh em giết nhau, cha lấy con loạn luân, thành Sodome làm tình hổn loạn, con người thờ tiền bạc, thờ bò.. Bản chất con người là tội lỗi, chỉ Yahvé  mới cứu được con người.
Bản dịch Thánh Kinh đầu tiên được các vị Thừa Sai Bồ Đào Nha và Pháp  soạn thảo tại Việt Nam từ thế kỷ 17, các vị thừa sai ngoại quốc mới học tiếng Việt vài ba năm nên dịch kinh lời lẽ ngây ngô. Người đọc không thông, không hiểu Nhã Ca nói gì, chữ nghĩa chập chờn kỳ quái, lại thêm các giống cây cỏ, hương liệu, hình ảnh sa mạc, đàn dê, đàn cừu, các địa danh Do Thái  tiếng Việt không có, phải Việt hóa ra sao ? Ta thử đọc một đoạn:
“Nguyện người hôn tôi bằng cái hôn của miệng người.
Vì ái tình chàng ngon hơn rượu,
Dầu chàng có mùi thơm tho;
Danh chàng thơm như dầu đổ ra;
Bởi cớ ấy các gái đồng trinh yêu mến chàng.
Hãy kéo tôi; chúng tôi sẽ chạy theo chàng.
Vua đã dẫn tôi vào phòng Ngài.
Chúng tôi sẽ vui mừng và khoái lạc nơi chàng.”
Đoạn thơ tả cô gái xinh đẹp cái gì cũng sánh đôi không gì riêng lẻ (Chacun a sa jumelle et nulle n’en est privée): hai gò má, hai cái môi, hai cái vú thì lại hiểu lầm là con cừu thảy đều sanh đôi, không con nào son sẻ:
Hỡi bạn tình ta, nầy mình đẹp đẽ thay , mình đẹp đẽ thay !
Mắt mình trong lúp giống như mắt bồ câu;
Tóc mình khác nào bầy dê nằm nơi triền núi Ga -la –át,
Răng mình như thể bầy chiên mới hớt lông,
Từ ao tắm rửa đi lên,
Thảy đều sanh đôi, không một con nào son sẻ.
Môi mình tơ sợi chỉ hồng,
Miệng mình có duyên thay,
Má mình trong lúp tợ như nửa quả lựu.
Cổ mình như tháp Đa vít, xây cất để treo binh khí,
Ngàn cái khiên treo tại đó, là các khiên của tay anh hùng.
Hai nương long mình như cặp con sanh đôi của hoàng dương,
Thả ăn giữa đám hoa huệ. “
Câu: Mon bien aimé est frais et vermeil  (Người yêu tôi tươi mát và hồng hào) dịch thành : Lương nhân tôi trắng và đỏ.
Tóm lại hàng bao nhiêu năm qua, bao triệu người Việt Nam đọc bản Nhã Ca, Kinh Thánh mà chẳng ai hiểu gì cả ! Hiểu trật và dịch trật từng câu. Nêu hết các câu trật có người lại hiểu lầm là chống lại thánh kinh, lỗi đức bác ái. Bao năm qua hàng trăm vị linh mục, mục sư được du học, đỗ Tiến Sĩ Thần Học, nhiều vị sáng suốt đã thấy khuyết điểm này, nhưng lại bị kẹt giữa vấn đề làm linh mục, mục sư mà phải dịch những đoạn thơ đầy dục tình, tả thân thể người con gái, tả việc làm tình thì  “tội nghiệp” cho chức vị linh mục. Các vị giỏi tiếng Pháp thì tiếng Việt lại không rành, không biết làm thơ Việt. Người biết làm thơ lại không rành tiếng Pháp, thì nói chi phải tham khảo bằng tiếng Do Thái và từng đi qua vùng này để thấy cây cỏ, khí hậu. Vấn đề khó khăn là phải dịch làm sao cho thấy cái tình yêu thanh tao, trinh khiết của đôi trai gái mà không sa vào dâm tục. Từ tình yêu vùng sa mạc xứ nuôi dê, cừu, chuyển vào Việt Nam đã thấm nhuần đạo đức Phật Giáo, Khổng Giáo  mà không thấy chướng tai, gai mắt.
Những điều ngày xưa, xem là thiêng liêng không ai dám đụng đến đều được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn đem ra khảo sát.  Thời Trung Cổ, quyển Kinh Thánh chỉ dành riêng cho các linh mục, đọc và diễn giảng cho tín đồ. Từ thế kỷ 15 đạo Tin Lành ra đời chủ trương mọi tín đồ đều đọc được Kinh Thánh. Ngày nay thì ai cũng có thể mua Kinh Thánh để đọc để biết trong Kinh Thánh viết gì ?. Chương Nhã Ca trong Thánh Kinh người Do Thái  không phải là lời Chúa mà chỉ là một tác phẩm văn chương. Cái hay cái đẹp của tác phẩm này phải được dịch ra để người Việt Nam hiểu rõ, để thưởng thức, không thể để tác phẩm trong mơ hồ, xem sự mơ hồ là siêu việt, thiêng liêng người nào không hiểu cái siêu việt đó là dốt thì cũng giống như chuyện ông vua ở truồng của Anderson, bị lường gạt bởi hai tên gian manh là mặc bộ áo trí tuệ, người thông minh mới thấy. Vua không hiểu nhưng sợ mình dốt nên hãnh diện trong sự trần truồng của mình, quần thần nịnh bợ ca tụng là vua mặc áo trí tuệ, thi sĩ tâng bốc áo người đại trí, dân chúng sợ hải uy quyền không dám nhìn và cứ thế vua trần truồng nhỡn nhơ đi kiệu cả ngày trong thành, cho đến khi một em bé cất tiếng : « Vua trần truồng như nhộng », thì vua và mọi người mới tỉnh thức.
Kinh Kim Cương Phật Giáo được Bảng Nhản Lê Quý Đôn ca tụng không tiếc lời, nhưng thi hào Nguyễn Du đọc nghìn lượt vẫn thấy : Những ý nghĩa gọi là sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng và quan niệm rằng Nghìn lời lưu lại ích chi, chỉ để bọn ngu tằng đời sau đọc điếc tai người ta. Không ai cho rằng Nguyễn Du phản đạo, phá hoại đạo, ma quỷ xúi dục, mà mọi người đều đồng ý với Nguyễn Du. Kinh điển, văn chương, thi ca  cũng phải rõ ràng, để ai cũng hiểu được, nếu mọi người  không hiểu thì lẽ vì đâu ? Nhiệm cụ của dịch giả, của nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu phải làm sáng tỏ. Bản dịch Nhã Ca được các vị thừa sai thiếu trình độ dịch thuật, chữ nghỉa lủng củng, câu cú không thông, cần phải được dịch lại.
Giáo Sư Đào Mộng Nam cũng đã dịch chương Nhã Ca và in thành sách tại California nhưng bản dịch vẫn chưa đáp ứng lại điều mong muốn. Tôi đã từng học Hán Văn với GS Long tại Hội Khổng Học Sài Gòn,  năm 1967.
Tôi có hai người bạn rất thân là: Giáo Sư Võ Thu Tịnh, tác giả các sách Giáo Khoa Việt Văn Trung Học, từng là môn sinh của Giáo Sư Nghiêm Toản tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Giáo sư Tịnh giảng dạy Văn Chương Việt Nam đào tạo các mục sư Tin Lành tại Hải Ngoại  và Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Đán Bình, linh mục dòng Xuân Bích Saint Sulpice, phụ trách Ban Việt Học. Trường Ngôn Ngữ Phương Đông, Viện Đại Học Paris VII.
Biết tôi ngoại đạo nhưng đã có kinh nghiệm dịch thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và mười năm dịch Odyssée và Iliade, 30 000 câu thơ ra thơ lục bát, tác phẩm nổi tiếng khó dịch thơ nhất của nhân loại, hai vị tặng cho tôi các quyển Thánh Kinh Pháp và Việt và nhờ tôi làm công việc khó khăn này. Theo hai vị thì sách Nhã Ca khó dịch nhất, và dịch thành thơ Việt thành công  thì xưa nay chưa ai làm được. Và sau đây là bản dịch của tôi: theo La Bible de Jérusalem. Eds du Cerf & Desclée de Brouwer Paris 1999, và quyển Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. United Bible Societies in tại Đại Hàn năm 1994. Ngoài ra tôi còn tham khảo La Bible . Nouvelle traduction Bayard 2001 và Ancien Testament. Traduction œcuménique de la Bible. Eds Cerf. 1977. Các sách này dễ dàng có được nên  bài viết này lược bớt phần trích dẫn bản dịch tiếng Pháp, tiếng Anh, để nguyên tác chữ Do Thái thì cũng chẳng ai đọc được.
Tiếc thay lúc hai vị nhờ tôi, thì tôi đang bận phải hoàn tất hai quyển Odyssée và Iliade ra thơ lục bát và bận soạn quyển Tự Điển Tình Yêu bằng thơ tình Xuân Diệu mà nhà thơ Xuân Diệu ký thác tôi toàn bộ di cảo từ năm 1981. Bây giờ tôi dịch xong thì GS Võ Thu Tịnh và LM Phạm Đán Bình đã qua đời hai năm rồi. Bản dịch này để tưởng nhớ hai người bạn vong niên thân thương.
Mục đích bản dịch này, là mong chuyển được cái hay cái đẹp của thi ca cổ đại Do Thái  ra Việt ngữ, để mọi người Việt Nam thưởng thức. Và bác bỏ cái thần thoại, hiểu theo nghĩa nông cạn đây là lời Chúa phán truyền, tự tay Chúa hay sai các tiên tri chép ra, mà phải hiểu và đặt câu hỏi : vì đâu con người thích hướng đến cái đẹp, cũng như cái chân, cái thiện. Cái đẹp nó tồn tại từ ba ngàn năm qua. Người dịch giả không chịu được những câu thơ xấu xí, thô kệch, hiểu sai làm cho một áng văn kiệt tác bị vùi vào vũng bùn. Người Hồi Giáo gọi cái đẹp là Thượng Đế, người Thiên Chúa Giáo gọi tình yêu là Thượng Đế. Cái cao vời tuyệt diệu nằm trong đó. Chứ không phải là một chương, một quyển sách nhân danh là của Thượng Đế.

NHÃ CA
Nhã ca của vua  Sa–lô–môn
bản dịch của  TS PHẠM TRỌNG CHÁNH
DẠO KHÚC
NGƯỜI YÊU NỮ                               Môi uống làn môi say rượu đào,
Tình chàng mơn trớn rượu thanh tao ;
Danh chàng như tựa dầu hương đổ,
Bao gái xuân thì yêu xuyến xao .

Kéo bước em đi, chân chạy nhanh,
Quân vương đưa gót đến cung phòng ;
Là cả niềm vui và lạc thú,
Dâng hiến yêu đương chén rượu nồng.
CHÚ THÍCH :
Le Cantique des Canthiques : có nghĩa le chant des chants, bài hát hay nhất trong những bài hát. Đây là những bài hát hay nhất của vua Salomon. Vua Salomon ngày xưa có một harem, rất nhiều vợ. Điều này khác với Chúa Jésus chủ trương một vợ. Salomon có nghĩa là Thái Bình.
Gái xuân thì : gái đến tuổi lấy chồng, có con , nhưng chưa có.

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT

NGƯỜI YÊU NỮ :             Em gái Giê ru sa lem, xinh đen da,
Như lều Quế Đa, màng San Ma ;
Mặt trời rạm nắng màu da mật,
Chớ có nhìn em vì màu da.

Các anh trai đã giận gì tôi ,
Bắt giữ vườn nho dang nắng trời,
Và tôi chẳng giữ,
Mảnh vườn tôi !

Chàng của lòng em hãy nói đi :
Từ phương nào đến, chàng chăn bầy ;
Nơi đâu chàng nghỉ trời  trưa bóng ?
Em biết tìm chàng, chẳng lạc đây !
Gần bên bầy thú, bạn sum vầy.
HỢP XƯỚNG                     Hỡi chàng có biết một cô gái xinh,
Lần theo bầy thú, theo bước chân ;
Theo chàng theo dấu bầy dê bước,
Bên lều mục tử đã lên gần.
NGƯỜI YÊU NAM           Hỡi người tình xinh
như ngựa xe Ai Cập Vương,
Cổ ngọc trân châu đẹp tuyệt trần ;
Giữa vòng bạc, má xinh hồng thắm,
Anh sẽ cho em bạc vàng vòng.
CÙNG HÁT                         Khi Quân Vương ngự dự tiệc trần,
Hương sắc lòng tôi tỏa hương xuân,
Người yêu tôi đóa hoa mộc dược,
Ngủ giữa lòng tôi đôi vú căng.
Người yêu tôi tựa chùm hoa phượng,
Trong Suối Dương  vườn nho xanh.

Người anh yêu hỡi, em xinh lắm,
Đôi mắt em xinh
Như bồ câu.

Người em yêu hỡi trai thanh lịch,
Giường chúng ta xanh  màu lá xanh.
Sườn mái nhà ta bằng gỗ bách,
Vách ván tường ta bằng gỗ tùng.
Tôi đóa thủy tiên vùng Sa Long ,
Là hoa huệ chốn thung lũng xanh;
Người tình ta giữa bầy xuân nữ,
Như đóa huệ thơm giữa gai đồng.
Như cây táo giữa vướn cây lá,
Bạn tình ta giữa trai thanh xuân.

Trong bóng chàng tôi ngồi lòng vui,
Trái chàng dịu ngọt cung tình tôi;
Chàng đưa tôi đến phòng tiệc yến,
Tình yêu cờ xí  lộng trên người.
Nâng lấy lòng tôi như bánh nho,
Hồi sinh tôi với trái thơm tho;
Vì tôi nhuốm bệnh đau tình ái,
Tay trái chàng nâng lấy đầu tôi,
Tay phài chàng ôm xiết người tôi.

Tôi van xin
Các nàng xuân nữ Giê ru sa lem,
Bằng gót chân hoảng chân nai đồng nội,
Chớ làm kinh động, đánh thức ái tình ta,
Trước giờ hoan lạc.
CHÚ THÍCH
Đen da: cô gái không phải da đen như người Nam Phi Châu,  mà da rạm nắng vì phơi nắng, giữ vườn nho.
Lều Quế Đa cung San-Ma :  tentes de Qédar, rideaux de Salomon,  Lều bằng da dê màu đenhình ảnh tương phản với cô gái đen sạm nắng và đẹp.
Tình yêu: trong tiếng Do Thái chơi chữ: vuốt ve và yêu mến có nghĩa là tình yêu.
Giê ru sa lem : Jérusalem, Kinh đô nước Do Thái, theo các nhà khảo cổ, cách đây 3000 năm chỉ có khoảng 15 000 dân.
Ai Cập Vương : Pharaon, Vua Ai Cập.
Gỗ bách, gỗ tùng: ta có thể hiểu hai người gặp nhau trong thiên nhiên lá xanh dưới gốc cây bách Ly Băng tán rất rộng như sườn nhà, và rừng cây tùng như vách chung quanh.
Suối Dương : En-Gaddi có nghĩa là suối các con hoảng, con dê.
Thủy tiên: có bản dịch là hoa hồng.
Sa Long : Saron vùng đồng bằng ở phía nam Carmel.
Cây táo : Chàng như cây táo , giữa các cây lá không mùi vị, không ăn được, cây táo có vị thuốc kích dục.

TÌNH KHÚC THỨ HAI

NGƯỜI YÊU NỮ               Tôi nghe tiếng người yêu.
Kìa chàng đã đến,
Băng qua núi,
Vượt qua đồi.
Chàng như con hoảng
Con nai khỏe.
Chàng sau song cửa
Sau tường vôi.

Chàng đã cất lời nói với tôi :
Đứng dậy em yêu, bước đi thôi,
Vì mùa đông đã qua rồi nhỉ ?
Mưa chẳng còn đâu mưa dứt rồi.
Ngàn hoa đã nở trên mặt đất,
Mùa hát hội vui đã đến gần ;
Tiếng chim cu gáy vang trời đất,
Cành vả nụ đầy, nho trổ bông.
Đứng dậy em yêu,
Dời bước chân.

Em yêu dấu, bồ câu trong hốc đá,
Còn thẹn thùng ẩn lánh sườn non cao.
Hãy cho anh em gương mặt em nào,
Hãy cho anh nghe tiếng em khẽ nói.
Vì tiếng nói em êm ru,
Trên khuôn mặt quyến rũ.

Hãy bắt giùm chúng tôi những con chồn,
Những con chồn nhỏ phá nho vườn,
Vì vườn nho chúng tôi hoa nở.

Em thuộc về anh, anh thuộc về em,
Như mục tử chăn bầy giữa đồng hoa huệ.

Trước khi gìó mát rạng đông,
Xua tan bóng tối.
Đến đây em, cùng bước,
Em yêu dấu ơi,
Như chân hoảng, chân nai,
Trên núi đồi Bê Thiết.
CHÚ THÍCH:
Song cửa: chàng trai đứng ngoài song cửa, không vào nhà vì muốn cô gái theo chàng ra ngoài.
Con chồn: Chơi chữ tiếng Do Thái:” Chồn” nghĩa là “ đào lổ”, “phá” nghĩa là “có thai”. Khu vườn là cô gái. Nghĩa bóng nguyên câu là chàng trai “đào lổ”, làm cho cô gái có thai.
Bê Thiết: Bètèr: nơi không rõ, nhưng có nghĩa là chia hai, chia phân, từ giả. Nghĩa cuối cùng bài thơ là chia tay và hẹn gặp lại tối nay.

TÌNH KHÚC THỨ BA

Nằm trên giường suốt đêm,
Tôi chờ người lòng tôi yêu mến,
Tôi  chờ nàng  mà chẳng thấy nàng.
Tôi chổi dậy, lang thang khắp phố,
Trên những con đường, trên những công trường.
Tôi kiếm mãi, người lòng tôi yêu mến,
Tôi kiếm hoài mà chẳng gặp nàng.
Những kẻ canh tuần
quanh thành tôi gặp :
Các anh có thấy người yêu tôi chăng ?
Họ vừa đi khỏi,
Tôi đã gặp người lòng tôi yêu mến,
Tôi nắm lấy nàng không thể buông ra,
Tôi đưa nàng bước trở lại nhà,
Ngôi nhà mẹ tôi đã hoài thai tôi đó.
NGƯỜI YÊU NAM           Tôi van xin
Các  xuân nữ Giê ru sa lem,
Bằng bước chân hoảng, chân nai đồng nội,
Chớ kinh động, chớ thức giấc ái tình ta,
Trước giờ hoan lạc.

TÌNH KHÚC THỨ TƯ

HỢP XƯỚNG                     Người là ai từ sa mạc đi lên,
Như làn khói
Hương dược thảo, trầm hương ,
Và tất cả hương thơm xứ lạ.

Kìa kiệu vua Sa lô môn,
với sáu mươi hộ vệ,
dũng sĩ  Y sơ ra el,
điêu luyện trong gươm kiếm,
lão luyện trong đánh giặc,
gươm mang bên mình,
phòng bất ngờ đêm tối.

Vua Sa lô môn
Chế cho mình chiếc kiệu,
bằng gỗ trắc Ly Băng,
cán ngù trụ bạc,
lộng gấm thêu vàng,
ghế dựa nhung tím,
Thêu với tấm lòng,
Bao xuân nữ  Gê ra sa lem,

Hãy đến chiêm ngưỡng,
hỡi các thiếu nữ Si ôn.
Vua Sa lô môn
với vương miện
bà Thái Hậu tấn phong,
Trong ngày hôn lễ,
Ngày vui trái tim ngài.

CHÚ THÍCH :
Sa lô môn : Vua Salomon
Y so ra ên : Israël, người Do Thái.

TÌNH KHÚC THỨ NĂM

NGƯỜI YÊU NAM           Bao xinh đẹp hỡi em yêu dấu  !
Hỡi em yêu xinh đẹp biết chăng!
Đôi mắt bồ câu sau làn tơ mỏng,
Suối tóc chảy dài như đàn sơn dương lượn
sườn núi Ga Lăng.
Răng em trắng như bầy cừu mới hớt.
Từ suối tắm em lên.
Từng đôi song song,
Chẳng gì riêng lẻ.
Đôi môi em sợi chỉ hồng rạng rỡ,
Và lời em dịu ngọt êm đềm.
Má hây đỏ nửa đôi thạch lựu,
Sau làn khăn tơ.
Cổ em vững như tháp lầu Đa Việt.
Tóc cuộn tròn ngàn chiếc khiên treo,
Khiên của bao dũng sĩ mến yêu.
Đôi vú em đôi nai con hồng phấn;
Song sinh một nai tơ,
giữa cánh đồng hoa huệ.

Trước gió nhẹ ngày lên,
thổi tan bóng đêm,
ta sẽ đến núi phương quế,
và đồi trầm hương.

Em xinh đẹp biết bao hỡi em yêu dấu,
Chẳng chút bụi nhơ !
Hôn thê ơi, hãy đến cùng ta từ Ly Băng,
Đến từ Ly Băng em bước vào.
Ngước mắt nhìn đỉnh Ái Sơn cao,
Đỉnh Sa Niên và Hạc Môn,
Hang loài sư tử,
Rừng núi loài beo.

Em đã mang hồn ta đi mất,
Hỡi em yêu và hỡi người yêu.
Một thoáng nhìn ta trong mắt,
Một vòng kiềng cổ yêu kiều.
Tình em đó biết bao là yêu dấu,
Hỡi em yêu và hỡi người yêu.
Tình ái em rượu nồng ngào ngọt,
Hương thơm em hơn tất cả các mùi hương;
Môi em yêu, hỡi người yêu dấu,
Mật ngọt khiết trinh,
Dưới lưỡi là sữa mật.
Và hương y trang em
Như hương vị Ly Băng.

Em là một vườn tình kín cổng,
Hỡi em yêu và hỡi người yêu.
Vườn kín cổng,
Suối nguồn khóa chặt ;
Nước mát phun tưới thạch lựu trong vườn.
Với biết bao trái thơm ngào ngọt.
Chùm nho mộng và cam vàng óng,
Mía ngọt ngon và bưởi chín thơm.
Và biết bao cây nhựa hương,
Trầm hương, kỳ nam
Thanh khiết mùi thơm.
Suối các khu vườn,
giếng nguồn sống động
róc rách từ Ly Băng !
NGƯỜI YÊU NỮ               :              Hỡi gió bấc, hãy vươn mình trổi dậy,
Hỡi gió nam, hãy đến dịu êm!
Thổi qua vườn tôi,
Cho hương tỏa êm đềm,
Người yêu dấu bước vào vườn rộng,
Và môi cắn trái thơm chín mộng.
NGƯỜI YÊU NAM:          Tôi bước vào vườn,
Hỡi em yêu và hỡi người yêu,
Gặt hái hương hoa nồng thắm,
Ăn trái ngon, mật ngọt trên cành.
Uống rượu ta và sữa của ta.
HỢP XƯỚNG                     Hỡi bạn hữu hãy cùng nhập tiệc,
Hãy say sưa này các bạn thân yêu.
CHÚ THÍCH:
Ga Lăng:   Galaad ở phía đông Jourdain, gần Yabboq.
Tháp Đa Việt: Tour de David  tiếng Do Thái  talpiyoth, viết giống như chữ  người yêu.
Ly Băng: Liban. Ái Sơn: Amana. Sa Niên: Sanir. Hạc Môn : Hermon. Núi phía Bắc Palestine, Có bài thơ trong thần thoại cananéen, Thần mời thần nữ người yêu đi săn vùng này, nhưng vì không cẩn thận bị thú dữ giết chết. Trong đoạn thơ này ngược lại nhắc người yêu tránh xa nơi hiểm trở này.
Trong bản tiếng Pháp họ dùng các tên le roseau odorant, le safran, le cinnnamome.. nhiều loại trái cây tại Tây Phương thời xưa chỉ có táo, nho, lê, không có cam, mía, lựu.., bản tiếng Việt dịch hoa phụng tiên, cây cam tòng, xương bồ, nhục quế, lư hội, trái cây bên Tàu không chính xác, và cũng chẳng ai hiểu là cây gì.. Nhưng tại Do Thái lại có các trái cây như Việt Nam :  mía, cam, bưởi, mảng cầu, dưa hấu.. Tôi thay bằng các cây trái, hương liệu Việt Nam cho gần gủi.
Núi phương quế đồi trầm hương : tượng trưng cho hai cái vú thơm.
Em yêu : Ảnh hưởng Ai Cập, người vợ được chấp nhận như em người chồng.
Khu vườn : tượng trưng cho người yêu, sở hữu riêng của người chồng.

TÌNH KHÚC THỨ SÁU
NGƯỜI YÊU NỮ
Tôi đang ngủ, nhưng lòng tôi tỉnh giấc,
Nghe tiếng người yêu gõ cửa gọi rằng :
« Mở cửa cho anh, hỡi em yêu, bạn yêu,
bồ câu ta yêu, hỡi người tình tuyệt diệu.

« Đầu anh đầy sương móc,
Tóc thấm giọt sương đêm ; »
-« Em đã cổi áo
mất công em mặc lại ?
Em đã rửa chân rồi,
lại lấm bụi dơ . »
Người yêu tôi luồng tay qua song cửa,
Tôi xúc động vì chàng.
Tôi chổi dậy
để mở cửa cho người tôi yêu mến.
Nhưng bàn tay chỉ còn chút dư hương.
Trên ngón tay tôi mùi hương thanh khiết,
Trên chốt cửa nhà.

Khi tôi mở cửa thì người tôi yêu mến,
Đã giận dỗi quay lưng và đi mất đâu ?
Chàng bỏ đi và tôi hoảng hốt,
Tôi kiếm gọi  chàng mà chẳng thấy đâu ?
Lính tuần tiểu
Dang đi vòng quanh thành, gặp tôi,
Họ đánh tôi, họ làm tôi thương tích.
Họ lột áo choàng tôi,
Những kẻ giữ thành.

Tôi van xin
Hỡi các xuân nữ Giê ra sa lem
Nếu gặp được người tôi yêu dấu,
Hãy nói với chàng rằng :
Tôi mang bệnh tương tư.
CHÚ THÍCH :
Các khảo cổ ngày nay cho thấy nhà thời xưa rất nhỏ, nền đất, nên trước khi lên giường họ cổi áo và rửa chân.
Bài thơ  còn cho thấy, luật lệ thành Jeruselem ban đêm cấm phụ nữ ra đường một mình, ai bất tuân  lính canh bắt gặp bị cổi áo choàng đánh cho mấy roi.

TÌNH KHÚC THỨ BẢY

HỢP XƯỚNG                     Hỡi người anh yêu thương nhất trên đời,
Người xinh đẹp nhất trần đời.
Hỡi người em yêu nhất trên đời,
Ta thề nguyện yêu thương nhau mãi mãi.
NGƯỜI YÊU NỮ :             Người yêu em tráng kiện, hồng hào,
Nổi bật giữa vạn người.
Đầu chàng là vàng, vàng ròng,
Tóc chàng như tàu lá,
Sắc quạ đen tuyền.
Đôi mắt như bồ câu,
Bên bờ suối nước,
Tắm sữa bên bồn phun.
Đôi má chàng như luống hoa màu mở,
Khóm hoa ngát thơm.
Đôi môi chàng là hoa huệ,
Ngào ngọt hương tình.
Tay óng xuyến vàng long lanh hoàng ngọc Tất Xi
Ngực ngà khối chạm ngọc lam xanh biếc.
Trên bệ vàng ròng
Chân như trụ cẩm thạch.
Dáng chàng như dáng núi Ly Băng.
Chẳng gì bằng, chàng như cây tùng xanh.
Chàng nói lời êm dịu,
Nhân cách chàng đáng yêu .
Người yêu tôi, người chồng tôi thế ấy,
Hỡi các xuân nữ Giê ru sa lem.

HỢP XƯỚNG                     Em về đău, hỡi em yêu dấu ?
Xinh đẹp nhất trên đời.
Người em yêu đi về hướng nào em nhỉ ?
Chúng tôi sẽ tìm hộ giùm em !
NGƯỜI YÊU NỮ :             Người yêu em  đã đến khu vườn,
Mảnh đất hương hoa màu mở.
Chàng đứng giữa bầy thú trong vườn,
Để hái cành hoa huệ,
Em thuộc về chàng và chàng thuộc về em,
Như bầy thú giữa đồng hoa huệ.
CHÚ THÍCH :
Tất  Xi : Tarsis : pierres de Tarsis : topazes,  xuyến đeo tay bằng hoàng ngọc.
Nổi bật giữa vạn người : chàng hơn tất cả, ngay cả thần vùng cananéen,  chàng như pho tượng thần.
Mắt bồ câu : sữa trong bình có ý vòng trắng quanh mắt bồ câu.
Núi Ly Băng (Liban) có nghĩa là núi trắng. Mont-blanc

TÌNH KHÚC THỨ TÁM

NGƯỜI YÊU NAM :         Em xinh đẹp, như Tiên Sa người tình ơi !
Duyên dáng như Giê ru sa lem.
Đáng sợ khác chi một binh đoàn,
Quay mặt chớ nhìn anh,
Vì làm anh bối rối
Tóc em lượn như bầy sơn dương trên sườn núi Gia Lăng,
Răng em trắng như bầy cừu đi lên, mới tắm,
Tắt cả đều sánh đôi,
Chẳng gì riêng lẻ.
Đôi má em nửa đôi thạch lựu,
Sau tấm màn tơ.

Dù có sáu mươi hoàng hậu,
Tám mươi vương phi,
Và bao cung nữ trên đời,
Chỉ có bồ câu yêu thương của tôi,
Tuyệt vời.
Em là con một, mẹ sinh ra,
Người yêu em nhất sinh em ra.
Bao thiếu nữ thấy em đều xưng tụng,
Bao hoàng hậu, vương phi cũng tán dương.
Em là ai hiển hiện như hừng đông,
Đẹp như vầng trăng.
Rạng rỡ như ánh dương,
Đáng sợ như binh đoàn.
CHÚ THÍCH :
Tiên Sa : Tirça, thủ đô Do Thái đương thời, một tên khác của Jérusalem.
Bồ câu : người Do Thái, người Tây Phương  thường gọi người yêu mình là con bồ câu của tôi.
Đáng sợ như binh đoàn: Tương đương nghĩa trong tiếng Pháp: Elle est belle et terible : đẹp và kinh khủng.

TÌNH KHÚC THỨ CHÍN

NGƯỜI YÊU NỮ               Trong vườn hạnh đào chân em bước tới,
Ngắm nhìn thung lũng những chồi non,
Nhìn vườn nho lá mới xanh rờn,
Xem thạch lựu đỏ hoa chưa nhỉ ?
Nhưng em chẳng biết lòng em đã,
Bước lên xe An Mỹ – Nam  Di.
HỢP XƯỚNG                     Hãy về đây, hãy về đây hỡi nàng Sa La Mỹ
Hãy về đây, hãy về đây ta đã chờ trông.
NGƯỜI YÊU NAM           A!  hãy đến hỡi nàng Sa La Mỹ,
Như điệu múa trong hai ban hợp ca.
Chân em xinh mang hài công chúa,
Vòng vế em như chuổi ngọc,
bởi bàn tay nghệ sĩ  tuyệt vời.
Rốn  em như ly rượu ngọt,
Rượu chẳng hề vơi.
Mình em bồ lúa mạch,
Hoa huệ vây vòng quanh.
Đôi vú căng đôi nai con hồng phấn,
Song sinh một nai tơ.
Cổ em một tháp ngà,
Mắt em hồ Hải Thủy,
Bên cửa Bát Khuê Môn.
Mũi em tháp Ly Băng,
Hướng về thành Đa Mạc.
Trán em vời vợi núi Cát Môn.
Tóc bính tím hoa sim.
Gót quân vương quấn quít suối mây vương.
Em xinh đẹp, hỡi em quyến rũ,
Hỡi tình ta vui thú tuyệt vời.
Dáng em tựa bóng dừa xanh mát,
Và ngực em tròn trịa trái đôi.
Anh khẽ nói: anh sẽ trèo lên dừa ấy,
Vin lá cành,
ôm đôi trái thanh xuân.
Hơi thở em nhẹ nhàng như hương táo.
Anh uống ly rượu em, uống mãi rượu ngon,
Anh xiết chặt hình hài em yêu dấu,
Chảy trên môi em  giấc mộng say.
Anh thuộc về em yêu dấu,
Em bên anh trong khát vọng dâng đầy.
CHÚ THÍCH
An Mỹ Nam Di: Ammi nadiîb: nghĩa là trên chiếc xe của dân tộc kiêu hùng tôi.  Như Thượng Đế bởi dân Do Thái.
Điệu múa trong hai ban hợp ca: Điệu múa ngày cưới, hai người nhảy giữa hai nhóm, khi hát khi nhảy xoay vòng.
Rốn: dùng thay chữ âm hộ để tránh thô tục, đoạn trên rốn em như ly rượu ngọt, đoạn dưới, anh uống ly rượu em, uống mãi rượu ngon. Và người con gái cũng hôn say sưa cái người con trai và để  để chảy vào môi.
Đa Mạc: Damas, thủ đô dân Araméens ở Syrie
Cát Môn: Carmel: Cái mũi nhô ra ở Địa Trung Hải, còn có nghí là vườn nho nhỏ.
Tóc: nguyên tóc màu tím đen, tôi dùng màu tím hoa sim để Việt hóa.

TÌNH KHÚC THỨ MƯỜI

NGƯỜI YÊU NỮ                               Anh hãy đến hỡi anh yêu dấu,
Ta cùng đi đến chốn đồng xanh.
Chúng ta sẽ ngủ qua đêm trong những xóm làng,
Ngày mai đó ta sẽ đến cánh đồng nho trái.
Ta sẽ đi xem những chồi non mơn mởn,
Hoa có nở bông,
Thạch lựu vừa khoe đỏ.
Em sẽ cho anh ân huệ  tình yêu.
Cây táo tình yêu thoang thoảng mùi hương,
Và cạnh cửa nhà ta đầy trái ngọt;
Trái non, trái già,
Em dành hết cho anh hỡi em yêu dấu.

A !  em xem như anh,
Chung vú mẹ một bầu.
Gặp anh ở ngoài, em có thể ôm hôn anh,
Chẳng ai dị nghị tình em.
Em sẽ dắt anh, sẽ dẫn anh về,
Trong ngôi nhà mẹ, để anh dạy dỗ.
Em rót anh uống ly rượu ngọt,
rượu mùi thạch lựu của em.

Tay trái anh nâng lấy đầu em,
Và tay mặt anh ôm xiết em.
NGƯỜI YÊU NAM:          Tôi van xin,
Các xuân nữ Giê ru sa lem,
Chớ kinh động tôi, chớ thức giấc tình tôi,
Trước giờ hoan lạc.
CHÚ THÍCH :
Cây táo tình yêu : dịch từ cây mandragore, cây phong già, có đặt tính ăn vào có nhiều kích hích tăng trưởng sinh sản.

CHUNG KHÚC

HỢP XƯỚNG                     Nàng là ai đến từ sa mạc,
Đứng tựa vai người yêu tôi ?
NGƯỜI YÊU NỮ                               Dưới cây táo thơm tôi đánh thức chàng,
Nơi mẹ chàng đã hoài thai ra chàng,
Nơi hoài thai và nơi sinh chàng.
Hãy để em tựa chiếc ấn giữa lòng chàng,
chiếc ấn trên tay chàng.
Vì tình ái mạnh như cái chết,
Lòng đam mê cháy như địa ngục,
Sức nóng là ngọn lửa,
Ngọn lửa của thần sấm.
Nước bao nhiêu không dập tắt được tình yêu,
Không con sông nào cuốn trôi đi tình yêu.
Ai đem hết gia tài để mua tình ái,
Chỉ mua được khinh khi.

LẠI VIẾT THÊM

NGƯỜI ANH                      Em tôi bé bỏng, ngực chưa đầy,
Ta sẽ làm gì khi ai hỏi nó đây ?
Nếu nó là trường thành,
Ta sẽ xây thêm tháp bạc,
Nếu nó là cánh cửa,
Ta sẽ ráp lên trên cửa ván gỗ tùng.
NGƯỜI YÊU NỮ                               Nếu tôi là bức tường,
Vú tôi là đôi tháp,
Bao giờ trước mắt em,
Tôi tìm được bình an
NGƯỜi  YÊU NAM           Sa lô môn có khu vườn nho ở Bá Hạ Môn,
Người giao vườn cho những kẻ canh giữ.
Mỗi người phải trả hoa lợi  nghìn nén bạc.
Vườn nho của tôi trước mặt tôi,
Hỡi Sa lô môn, trả ông nghìn nén bạc,
Và hai trăm cho kẻ giữ vườn.
Em ở trong khu vườn
Các bạn bè đến lắng nghe tiếng em.
Hãy lên tiếng đi em,
NGƯỜI YÊU NỮ                               Này anh  yêu, hãy trốn đi
Hãy nhẹ bước chân như con hoảng con nai.
Trên núi trầm hương đó.
CHÚ THÍCH:
Đoạn thơ cuối cùng này có vẻ không liên hệ gì tới bài thơ, như một trang thơ nào chép lạc vào đây.
Lửa của Yavé còn có nghĩa là lửa của thần Sấm. Hy Lạp Zeus là Thần Sấm, cai trị cõi con người và trời là gốc tích chữ Dieu của Tây Phương.

Paris 6-12-2012
PTC
*Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục. Viện Đại Học Paris V Sorbonne. Tác giả : Hồ Xuân Hương, Nàng Là Ai ?. Thơ Tình Nhất Uyên (Huy Cận, Xuân Diệu đề tựa). Cánh chim từ vùng lửa đỏ (Thơ Nhất Uyên, nhạc Tôn Thất Lập) Truyện Thơ Odyssée, Sử Thi Iliade bằng thơ lục bát. Tự Điển Tình Yêu bằng Thơ Tình Xuân Diệu. Nguyễn Du mười năm gió bụi.. và nhiều công trình nghiên cứu về Giáo Dục và văn học Việt Nam.

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012

Về LÊ ĐẠT (do Hà Nhật)


                 GẶP THƠ LÊ ĐẠT MỘT THỜI

                                                       Hà Nhật

  • 13 November, 2012 20:30
  • http://ngominh.vnweblogs.com/post/2246/390258


Nhà thơ Lê Đạt (1929-2008)

  Phải rất lâu sau Hà Nội giải phóng (1954) tôi mới bắt đầu biết đến thơ Lê Đạt. Là học sinh vùng địch tạm chiếm, tôi chỉ biết thơ Kháng chiến có Tố Hữu, rồi Hoàng Cầm, Hữu (tức Hữu Loan), Quang Dũng…
Những bài thơ đầu tiên đọc được của Lê Đạt đã chẳng gây ấn tượng gì lắm cho tôi. Đến khi đọc mấy bài của Lê Đạt trên Giai phẩm mùa xuân 1956 với những câu thơ đại khái như xã hội chủ nghĩa không thể vác ba lô đi bộ, tôi chỉ thấy hơi lạ mà không cảm thấy thích. “Lạ” là rất cần, nhưng chưa phải là tiêu chí số một của thơ. Nói như Nguyễn Văn Siêu, thơ trước hết phải làm xúc động lòng người.
Thế rồi, đùng một cái, báo Văn Nghệ đăng bài thơ Cha tôi của Lê Đạt. Cả giới làm thơ, trẻ như già, rúng động. Nhìn chung thì kết cấu của bài thơ không có gì lạ so với những bài thơ ngày đó : nhìn về quá khứ, nhận ra quá khứ buồn đau để cảm thấy mình thật may mắn hơn thế hệ cha ông. Kiểu thơ này, đọc tập thơ nào, bài thơ nào trên bất cứ tờ báo nào lúc này mà chẳng thấy. Nhưng với kết cấu ấy, Lê Đạt trong Cha tôi, có những câu thơ chưa từng có, những câu thơ như từ gan ruột người ta mà ra, những câu thơ như từ trải nghiệm đau đớn của cuộc đời mà ra. Lâu lắm người đọc thơ Việt Nam mới được đọc một bài thơ như thế. Trải qua hơn nửa thế kỷ, tôi chỉ còn nhớ một số câu thơ. Chẳng hạn như những câu mở đầu :
          Cha tôi
          Đất quê Đề Thám
          Rừng rậm sông sâu
          Con gái cũng quen nghề võ
Những câu thơ nói về cái hăm hở của chàng trai mới vào đời, sang sảng ngâm lên những câu Kiều của Nguyễn Du như chính là chí khí của mình :
          Phong trần mài một lưỡi gươm
          Những phường giá áo túi cơm sá gì
Những câu nói về một thế hệ thanh niên Việt Nam :
          Khóc Phan Châu Trinh như khóc người nhà mình
Rồi đến những câu thơ nói về cái bất đắc chí của con người sinh bất phùng thời, sau chứng kiến thất bại liên tiếp của các phong trào cứu nước, biết mình không thể làm để thắng nổi những oan trái trong đời, đành chấp nhận sống chung với nó nhưng không công nhận nó :
          Ngâm một câu Kiều
          Ôm mặt khóc
Cho đến khi sự chấp nhận đã trở thành thói quen, con người ta cam chịu với nỗi nhục phải sống, “càng sống càng tồi”, con người ta trở nên hèn đi, sống mà chỉ như cỏ cây, không phải là sống. Hình ảnh người cha lúc này thật là tội nghiệp :
          Hai vai nhô lên
          đầu lún xuống
          Như không mang nổi cuộc đời
          Bóng in tường vôi
          Im lặng
          Bóng với người như nhau
Đến những câu thơ này thì cực hay :
          Mùi ẩm mốc tiếng mọt kêu cọt kẹt
          Ở chân bàn hay ở cả cha tôi ?
Có lẽ đọc hết một tập Sống mòn (chính xác là Chết mòn), một truyện Đời thừa của Nam Cao, nỗi cay đắng cũng chỉ đến thế thôi.
Có thể nói, với Cha tôi, Lê Đạt mới thực sự đươc mọi người coi là nhà thơ, nhà thơ của mình, nhà thơ của thời đại. Ngay năm đó, Cha tôi được đưa vào sách giáo khoa Giảng văn lớp 10, lớp cuối cùng của nhà trường trung học ở miền Bắc. Mọi người coi đó như một điều hoàn toàn tự nhiên. Tôi nhớ, vào năm ấy, không ít nhà thơ đã lấy thơ Cha tôi làm như cái chuẩn để mà khen chê thơ hay thơ dở. Cũng trong năm đó, một trong những cái tội của giáo sư Trương Tửu là dám từ trên bục giảng đường Khoa Văn của trường Đại học Việt Nam cho rằng “đem đặt bên cạnh bài thơ Cha tôi của Lê Đạt thì cả tập thơ Việt Bắc chẳng là gì cả”. Nên nhớ rằng Việt Bắc vừa được trao giải nhất về thơ trong giải thưởng của Hội Văn Nghệ Việt Nam cho hai năm 1954-1955. Cũng nên nhớ rằng giáo sư Trương Tửu là vị giáo sư duy nhất ở Việt Nam không có bằng cấp nào cả nhưng là thần tượng của mấy thế hệ sinh viên văn khoa và mỗi lời của thầy nói ra thì đều như mang theo một thứ ma lực huyền bí, không thể cưỡng lại được. Thầy Trương Tửu có cái tật mà sinh viên nào cũng biết là khi đã khen ai thì không tiếc lời, mà lời của thầy thì toàn là “lời có cánh”. Chẳng hạn thầy khen thơ Hồ Xuân Hương là “nếu đem những câu thơ ấy mà vắt, tưởng như nhìn thấy chất sống chảy ra ròng ròng…”.
Lê Đạt với Cha tôi, thế là hầu như trong giới làm thơ và yêu thơ, ai cũng biết. Tuy nhiên, đó chỉ mới là khúc dạo đầu cho một chặng mới của Lê Đạt.
Cứ như một chuyện lừng lững từ trên trời rơi xuống, tờ báo Nhân Văn số 1 được rao bán trên các nẻo phố Hà Nội vào một buổi sáng kia. Đi đâu cũng thấy có người mua báo Nhân Văn, đọc báo Nhân Văn. Mà tờ báo Nhân Văn thì ngay trang đầu là bài thơ của Lê Đạt : Nhân câu chuyện mấy người tự tử.
Thơ gì mà quái lạ thế này ? In ở trang 1, lại còn “xem tiếp trang 2”. Thơ không có vần, lại còn “leo thang” lên xuống gập ghềnh. Thơ mà lại còn có “tái bút” nữa ! Thế nhưng người đọc ngày hôm ấy có quan tâm gì đến chuyện đó đâu. Có thể nói trong lịch sử thơ Việt Nam xưa nay, chưa có bài thơ nào làm choáng váng người đọc với một số lượng đông đảo đến như vậy. Tôi đem chuyện này kể với anh Nguyễn Bính, lúc này là chủ bút báo Trăm hoa. Anh Bính bảo :
- Thì bởi vì đây là tiếng chuông cứu khổ mà lại!
Quả thật, hình như lúc này mọi quy tắc về thơ (ấy là nói thơ theo quan niệm như cho đến lúc bấy giờ người ta vẫn nghĩ) đều bị bỏ qua hết. Lê Đạt bắt đầu cứ như người ngồi kể chuyện vặt, một câu chuyện tò mò :
          Báo nhân dân số 822
          Có đăng tin mấy người tự tử
          Vì câu chuyện tình duyên dang dở
          Trưa mùa hè nóng nung như lửa
          Tôi ngồi làm thơ
          Vừa giận vừa thương những người xấu số
          Chân chưa đi hết đường đời
          Đã vội nằm dưới mộ.
Tiếp theo là những câu thơ rất trữ tình :
          Chết là hết
          Hết đau hết khổ
          Nhưng cũng là hết vầng trăng soi sáng trên đầu
          Hết những bàn tay e ấp tìm nhau
Lê Đạt hình dung ra cái cảnh đôi trai gái yêu nhau trước khi họ tìm đến cái chết :
          Người con trai ngồi trên gò đất
          Thổi sáo gọi người yêu
          Bắt nắng chiều đứng lại
          Lúa đang thì con gái…
          Xôn xao gió thổi
          Đầu sát bên đầu tính chuyện tương lai
Quả là những câu thơ đẹp một vẻ đẹp hiền lành kể về một mối tình đẹp nhưng bình thường của một chàng trai quê với một cô gái quê. Nếu chỉ xét về nội dung, chuyện  này chẳng có gì khác lắm câu chuyện Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài  mà người Hà Nội và người miền Bắc hồi đó ai cũng biết. Bởi có một bộ phim Trung Quốc đang chiếu và một vở cải lương đang diễn ở các rạp Kim Chung, Kim Phụng ! Tuy nhiên, đó chỉ là những tia khói báo hiệu cho một sự bùng nổ.
Bởi Lê Đạt không quy trách nhiệm cho một Chúc ông, Chúc bà nào đó làm chuyện “rẽ thúy chia uyên”. Lê Đạt viết những câu thơ chỉ có thể là thơ của Lê Đạt :
          Anh công an nơi ngã tư đường phố
          Chỉ đường cho
xe chạy
 xe dừng
          Rất cần cho luật giao thông
          Nhưng đem bục công an đặt giữa trái tim người
          Bắt tình cảm ngược xuôi
          Theo luật lệ đi đường nhà nước
          Có thể gây nhiều đau xót
                                      ngoài đời
Mọi sự cứ là nổ bùng lên. Đây đâu còn là chuyện của mấy người tự tử, đây là chuyện của cuộc sống đang diễn ra, chuyện của hàng triệu con người. Không chỉ là chuyện yêu nhau, mà là chuyện cơm áo, chuyện số phận con người. Cho đến bao nhiêu năm sau, những câu thơ ấy vẫn còn được nhiều người nhắc tới hoặc đọc lên. Thì ra Lê Đạt không làm thơ về mấy người tự tử, mà chỉ là nhân câu chuyện mấy người tự tử !
Sau này, đến lúc phản kích, những người tham gia cuộc phản kích phát hiện ra rằng trong bài thơ của mình, Lê Đạt đã dùng một biện pháp nghệ thuật khôn khéo có tên là symbole équivoque (hình tượng hai mặt). Sự phát hiện này đã trở thành một thói quen, một phương hướng quan trọng cho việc xem xét và đánh giá tác phẩm thơ suốt từ đó đến mãi tận bây giờ. Thơ Lê Đạt, thơ Trần Dần là équivoque, Lời mẹ dặn của Phùng Quán là équivoque, nhiều bài thơ có thể équivoque ! Symbole équivoque, ôi, con ngoáo ộp đã treo lơ lửng lên số phận bao nhiêu bài thơ, bao nhiêu người làm thơ. Thơ mà thẳng đuột như ruột ngựa thì mang tiếng là thơ thiếu chiều sâu, thơ không để lại dư vị cho người đọc phải ngẫm nghĩ, nhưng thơ mà có hai nghĩa thì bị quy là équivoque, là thâm hiểm. (Có điều rất đáng nói là cùng lúc đánh phá những bài thơ équivoque như thế, người ta lại không tiếc lời khen những bài thơ hai nghĩa của Hồ Xuân Hương là “có tác dụng chống lễ giáo phong kiến” !
Quả thật, chỉ với riêng một đoạn thơ có cái “bục công an” nói trên, bài thơ của Lê Đạt đã buộc người ta phải đọc và phải nhớ, đây không chỉ vậy, hết bài thơ còn một phần “tái bút” cũng dài ngang một bài thơ, trong đó có những đoạn như đoạn này :
          Ngày Phật Đản vừa qua được nghỉ
          Tôi với Văn Cao rủ nhau đi ăn thịt chó
          Văn Cao vốn là người nể vợ
          Mua thêm một gói về nhà
          Tôi bỗng giật mình (nhưng không dám nói ra)
          Người chủ lấy thơ tôi gói thịt !
          Ngay khi ấy tôi chỉ còn muốn chết
          Như dại như điên tôi oán đất oán trời
          Nhưng hôm nay tôi chỉ oán mình tôi
          Thơ tôi bị người đời ruồng bỏ
          Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ
          Vẽ phấn bôi son tô toàn màu đỏ
          La liệt đầy đường hoa nở chim kêu
Thế là Lê Đạt đã tranh thủ tấn công vào một xu hướng thịnh hành, có thể nói là xu hướng chủ đạo, của văn học (mà cả các bộ môn nghệ thuật khác cũng vậy) nước ta thời ấy : xu hướng tô hồng, hay nói cho chính xác, xu hướng gọi là lãng mạn cách mạng, tiêu chuẩn quan trọng nhất trong một tác phẩm được coi là có giá trị hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tội to quá. Bị đánh là phải.
Được 5 số thì báo Nhân Văn chết đứ đừ. Cũng từ đây, từ nhân văn được coi như đồng nghĩa với phản động. Còn từ giai phẩm thì hầu như không còn ai dùng đến. Tuy nhiên, hình như vào khoảng đầu hoặc giữa năm 1957 gì đó, Lê Đạt còn viết một bài thơ dài với cái tên ngộ nghĩnh : Cửa hàng Lê Đạt. Bài thơ chỉ được đánh máy chứ không in ở báo nào. Đa số người đọc biết Lê Đạt có bài thơ này là nhờ có một bài của Xuân Diệu đánh tơi bời trên tờ Tạp chí Văn Nghệ. Mùa hè 1958, Lê Đạt còn in được một tập Bài thơ trên ghế đá, mà Lê Đạt gọi là thơ về những thứ vulgaire (thông tục, tầm thường, không có gì thi vị) ở đời. Có điều là tập thơ được in nhưng không được phát hành.
Mùa thu 1958, với một cuộc chính huấn đại quy mô, “bọn nhân văn – giai phẩm ra trước tòa án dư luận”. Mọi chuyện thế là chấm dứt một cách êm thấm, có thể nói là tốt đẹp. Sau cuộc chỉnh huấn là một đợt “đi thực tế” dài. Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Hữu Loan bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn. Còn ở trường Đại học, những cây đa cây đề bị bật gốc : Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh…
Tôi còn nhớ như in một buổi chiều, sau giờ lên lớp, thầy Phan Ngọc, một giảng viên quê xứ Nghệ, dạy chúng tôi môn Ngôn ngữ học đại cương, nói với lớp bằng giọng nhỏ nhẹ :
- Bắt đầu từ hôm nay, tôi được trường cho nghỉ dạy để viết tự kiểm thảo.
Thế là một mạch. Dẫu sao còn được nói mấy lời từ biệt. Còn các vị giáo sư nói trên thì chẳng nói năng được gì. Mãi mãi không ai biết trường Đại học Việt Nam có một vị giáo sư khi mới 24 tuổi đã đỗ hai bằng tiến sĩ tại Đại học Sorbonne danh giá của nước Pháp, một nhà triết học từng tranh luận với Jean Paul Sartre ở Paris, một nhà sử học có trí nhớ thông kim bác cổ, một vị giáo sư có lối giảng bài như lấy kiến thức ra từ từng ngăn kéo và hút hết hồn vía người ta. May lắm, sau này hình như có người biết ở Phố Hàng Gà Hà Nội có một ông thầy châm cứu giỏi vào loại siêu, hình như ông ấy nguyên là một giáo sư Văn học nổi tiếng…
Từ năm học 1958-1959, bọn chúng tôi lên học tận Cầu Giấy, cách Hà Nội 12 km, giữa một vùng đồng không mông quạnh, phía bên kia đường là làng Vòng làm cốm, cách về phía tây một đoạn nghĩa trang Mai Dịch, nơi chúng tôi thỉnh thoảng đến lao động. Hầu như với toàn thầy mới toanh. Mỗi tuần, mong như mong mẹ về chợ, đến chiều thứ bảy, Ký túc xá Cầu Giấy mở cửa, lũ sinh viên chúng tôi, hoặc đạp xe, hoặc đi bộ, ù về Hà Nội một ngày, để tối hôm sau, trước lúc 9 giờ, phải có mặt tại phòng ngủ.
Mỗi lần về Hà Nội, không hiểu sao cứ thấy buồn vô cùng. Hầu như chủ nhật nào tôi cũng ghé qua nhà Lê Đạt rồi nhà Trần Dần, chẳng để làm gì, chẳng giúp ích được gì, chỉ để gặp chị Thúy (vợ anh Đạt), chị Khoa (vợ anh Dần), biết rằng hai chị vẫn yên ổn, hai cháu bé, cháu Nhiên và cháu Kha vẫn chơi.
                                                                  
Sài Gòn , tháng 2 – 2008

Tái bút:
Những câu thơ của Lê Đạt dẫn trong bài người viết trích theo trí nhớ. Có gì sai sót mong nhà thơ thông cảm vì đã hơn 50 năm rồi…HN

Nguồn 2: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=5866


-------------------------------------------
02 November, 2012 21:04
http://ngominh.vnweblogs.com/post/2246/388448

CHUYỆN THẦY HÀ NHẬT LÀM THƠ

alt
Hà Nhật, Bùi Xuân Phái ký họa

Ngô Minh

               Tôi gọi là “thầy” vì thầy Lương Duy Cán ( Hà Nhật ) dạy văn tôi hồi nhỏ học cấp 3  ở trường huyện . Tôi viết Chuyện thầy Hà Nhật làm thơ vì thầy vừa ra mắt tập thơ đầu tay Đá sỏi trên đường (*) khi thầy đã U80. Thầy mà một thi sĩ từ trong máu thịt, thi sĩ từ lúc trẻ cho đến bây giờ,  nhưng lại không có tên trong danh sách Hội Nhà văn. Đó là một điều lạ, trong lúc rất nhiều người thơ phú làng nhang, thậm chí  vớ vẩn, vẫn chạy chọt để vào Hội.  Hà Nhật là một nhà thơ có tiếng từ những năm 60 của thế kỷ XX, sao lại chỉ có  51 bài thơ trong Đá sỏi trên đường ? Câu chuyện dài lắm, nó như là một phong cách thi sĩ.
          Tôi thấy thầy Hà Nhật suốt thời trai trẻ luôn lãng đãng thơ, lãng đãng em . Làm xong bài thơ, đọc bên chiếu rượu rồi  tặng người đẹp là coi như mãn nguyện, không hề biết lưu giữ để in thành tập,để xin vào hội này hội khác... Nhưng nhắc đến thơ Hà Nhật, trăm nhà thơ có tên tuổi đều yêu mến, nể trọng. Bởi thơ Hà Nhật vừa đam mê nồng cháy, vừa trí tuệ. Quê cũ nghèo không lúa không khoai / Chỉ có trời xanh và muối mặn (“Muối”). Gặp nhau bây giờ / Táo  trong vườn rụng hết / Thôi đừng nhắc nữa / Cho lòng đau / Nghe em (“Táo”). Tình anh như muối kia / Mặn mòi và lặng lẽ / Muối trăm đời vẫn thế / Tình anh không có màu (“Tình muối”). Năm 2007, viết ở đến thờ An Dương Vương ở Nghệ An trong chuyện ra thăm lại nơi mình từng dạy học xưa, Hà Nhật vẫn giữ được sự chất chứa ấy: Đền Cuông - cuông bay hết / Về chi nữa em ơi / Cha già còn ngoảnh mặt / Mong gì đời sửa sai ! (“Đền Cuông”)… Hay : Anh bơ vơ giữa cuộc đời phù du / Chỉ có em thôi / Chỉ có em là thật... ( Bão số 2, 2007).
           Thầy Hà Nhật được gia đình ở Bảo Ninh, ( Đồng Hới) gửi vào Huế học trường Khải Định ( trường Quốc học bây giờ) từ năm 1953. Hồi ấy mới mười bảy tuổi đã yêu, đã thơ “có nghề” lắm: Trên đồi sim/... Chiều tàn lịm/ Tàn cả trong tim / ...Tiếc tình xưa tan võ / Như những cánh sim bay (Trên đồi sim, Đá sỏi trên đường ). Sau Hiệp định Genève, Hà Nhật phải rời trường Khải Định, ra Hà Nội học tiếp Đệ nhị và đỗ tú tài toán năm 1956. Học giỏi toán nhưng lại xin thi vào sư phạm Văn. Hồi sinh viên học Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nhật thường chơi thân với các nhà thơ, nhà văn cùng trang lứa như Phùng Quán, Nguyễn Bùi Vợi, Vân Long, Băng Sơn, Thúc Hà …Lại bù khú rượu thơ bên các người đẹp, ngất ngư năm tháng. Yêu rồi, tặng thơ cho “nàng: rồi thì thấy cái gì cũng đẹp, cũng gần gũi :
                             Sao lại yêu cả tên đường phố
                            Thấy cuộc đời ai ai cũng vui
                             Không biết vì sao vô cớ mỉm cười
                             Nói chuyện với cả cầu thang gác ( Khắp nơi )
          Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi vẫn thường nhắc đến anh bạn thơ Hà Nhật dân Quảng Bình gầy đen, nhưng thông minh, nhạy cảm và đa tình. Nguyễn Bùi Vợi  kể : “...Chúng tôi dại dột rủ nhau in chung một tập thơ tình ở một nhà xuất bản tư nhân có tên là “Tre xanh” do ông Nguyễn Hoàng Quân chủ trương . Tập thơ mỏng dính , gần  hai chục bài. Nâng niu tập thơ trên tay , tôi mừng khôn xiết nhưng sau đó cảm giác xấu hổ không xóa đi được vì thấy thơ bạn tài hoa, bay bướm hơn thơ mình , mình không đáng đứng cạnh”... Nguyễn Bùi Vợi là một nhà thơ có tiếng, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ đời tám hoánh, mà nói về người bạn thơ “tỉnh lẻ” của mình, chẳng hội viên hội viếc gì  như thế là chân thật và đáng trân trọng.
          Từ năm 1956, khi mới  chưa đầy 20 tuổi, Hà Nhật đã có những bài thơ “Đợi đò”, “Mưa Huế” rất sắc sảo. Trong bài “Mưa Huế”, hình bóng những cô gái Huế rất đẹp: Dáng gầy như cỏ cây quê mẹ / Giếng tình thăm thẳm mắt không vơi…” . Hà Nhật còn hăng hái làm thơ gửi đăng báo Đất Mới, một kiểu báo Nhân văn của sinh viên thời ấy.  Rồi  hay la cà gần gũi với lớp đàn anh như Nguyễn Bính, Trần Dần, Lê Đạt, Quang Dũng, Nguyễn Đình, Trinh Đường và cả Bùi Xuân Phái nữa… Nên khi vụ Nhân văn–Giai phẩm xảy ra, tuy không “dính”, nhưng sinh viên Lương Duy Cán cũng bị ghi vào sổ đen. Vì thế năm 1959, tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm vào loại giỏi thời đó là hiếm lắm, oách lắm, nhưng Hà Nhật không được dạy cấp 3, bị “phát vãng” về dạy cấp 2 ở Diễn Châu, Nghệ An ba năm liền.
           Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có lần kể cho tôi, hai nhà thơ Vương Trong và Hoàng Cát nghe một chuyện vui cười ra nước mắt. Thời dạy học ở Diễn Châu, có lần nhớ mất của Nguyễn Du, Hà Nhật cùng với một thầy giáo dạy văn cao to cùng trường đêm hôm tổ chức “tưởng niệm Nguyễn Du” ngay trong phòng ở của mình. Hai người thắp hương, đốt nến khấn rồi thay nhau nói về tính nhân văn trong thơ Nguyễn Du. Hai thầy giáo say mê không biết ở ngoài cửa có người rình . Nghe xong anh chàng hốt hoảng đến ngay nhà ông lãnh đạo địa phương tố cáo là có hai người đêm hôm ca ngợi “nhân văn –giai phẩm”. Cái người gầy còm ( tức Hà Nhật) nói tới 18 lần “nhân văn”, còn người cao lớn nói  11 lần .Hồi ấy, cụm từ “nhân văn-giai phẩm” đồng nghĩa với  “phản động”. Mà dân quê thì không phân biệt được từ “nhân văn” sang trọng ấy  với vụ “nhân văn-giai phẩm”! Từ đó Hà Nhật bị “ghi vào sổ đen”. Hà Nhật có yêu một cô giáo quê ở Nghĩa Đàn, miền Tây Nghệ An, cách Diễn Châu khoảng 80 cây số,  nhưng  khi gia đinh nghe nói thầy giáo này có dính tới nhân văn giai phẩm, thì gia đình kiên quyết không gả. Chính người con gái ấy và mối tình bị từ chối đã “cho” Hà Nhật bài thơ tình nổi tiếng “ Bài thơ tình của người thuỷ thủ”.
               Thầy kể rằng, hồi năm 1962, vì buồn tình, nhân mấy ngày nghỉ, có mấy người ngư dân  ở quê Bảo Ninh  ra Nghệ An đi buôn bán bằng thuyền biển rủ thầy về quê bằng thuyền với họ. Từ Nghệ An vào Đồng Hới đi đường bộ thời đó cũng chỉ  ngày rưỡi. Nhưng tính thầy thích ngao du, chuộng lạ. Thế là thầy liều lênh đênh trên biển với ngư dân ba ngày ba đêm ròng. Say sóng ngất ngưỡng, nôn ra mật xanh mật vàng. Nhưng đổi lại thầy làm được Hai bài thơ tình của người thuỷ thủ rất hay, rất “độc”:
          Em hỏi tôi nước biển màu gì?
         Tôi người thuỷ thủ từng lênh đênh năm tháng
          Tôi sẽ nói cùng em
          Nước biển dịu dàng, bí mật và cuồng nộ
          Cũng như màu đôi mắt của em

     Đoan trích trên ở bài I, Bài 2 của “Bài thơ tình của người thuỷ thủ” jasu hơn , nổi tiếng . Hồi đó, dân yêu thơ Quảng Bình ai cũng thuộc :
                                 Nếu ở cuối trời có đảo chân trâu
                                 Hay ở đảo xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc
                                 Hay có người gái đẹp
                                 Môi hồng như san hô
                                 Cũng không thể khiến anh xa được em yêu

                                  Nhưng hỡi em
                                  Nếu có người trai chưa từng qua bão tố
                                 Chưa từng qua thử thách gian lao
                                  Lẽ nào có thể xứng với tình em?
                       
       Khi  làm xong thơ, thầy sợ không ký tên Hà Nhật mà ký tên là Mai Liêm, gửi báo Hà Nội, lấy địa chỉ liên lạc của một  người chị bà con bên mẹ là chị Chiến đang học ở Trường cấp 3 Đồng Hới (sau này thành vợ nhà thơ Hải Bằng). Khi báo đăng bài thơ, nhạc sĩ Hoàng Vân đọc được, cảm và phổ nhạc, nhưng không đề “phổ thơ Mai Liêm”. Bài hát “Tình ca người thuỷ thủ” lập tức được công chúng thanh niên cả nước đón nhận nồng nhiệt. Đến hôm nay, trên Radio, tivi, nhiều ca sĩ vẫn hát “Tình ca người thuỷ thủ”…Cái bút danh Mai Liêm ấy thầy còn ký ở rất nhiều bài thơ khác. Những năm 1960 ấy, hàng loạt các tác phẩm văn học đầy chất sống, cuốn hút người đọc đã bị các nhà phê bình văn học “đánh” kịch liệt và xếp vào tội “xét lại” như các tiểu thuyết Mùa hoa dẻ của Văn Linh, Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng- Văn Thanh, Mở hầm của Nguyễn Dậu.v.v Bài thơ, bài hát “Tình ca người thuỷ thủ” cũng bị phê phán là “lãng mạn tiểu tư sản”, “xét lại”. Họ chất vấn “Đi tìm gì, tìm ai ngoài khơi xa kia?”. Những ngày tháng đó, Hà Nhật cảm thấy cô đơn da diết. Tôi có một câu thơ chết đuối dưới dòng sông / Tôi lãng quên suốt một thời trai trẻ (“Nói với dòng sông”). Có lẽ vì thế là người ta không để thầy dạy học ở Đồng Hới mà bắt lên dạy ở Lệ Thủy
                                                          *
                                                        *   *
alt
Hà Nhật đang đọc thơ

         Năm 1964, thầy Hà Nhật về dạy ở cấp 3 Lệ Thuỷ, cũng là năm chúng tôi là Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng, Lê Đình Ty...vào học cấp 3. Thầy Hà Nhật và thầy giáo trẻ Phan Ngọc Thu đã truyền cho lớp chúng tôi một không khí yêu thơ, làm thơ rừng rực từ đấy. Những tiết học đầu tiên của năm lớp 8 , học sơ tán dưới nhà hầm chiến tranh nửa chìm nửa nổi ở thôn Đông Liễu, xã Liên Thuỷ ấy, chúng tôi đã nghe thầy đọc những bài thơ tình nồng cháy của mình. Đứa nào cũng chép đầy sổ tay. Rồi thầy dạy cho chúng tôi bài hát Hoàng Vân phổ thơ thầy, dù lúc đó bài hát bị cấm phổ biến. Hồi đó cả lớp tôi làm thơ, có hẳn một tờ báo tường tên là  Văn Nghệ của nhóm sáng tác, bên cạnh tờ báo tường của Chi đoàn lớp. Thầy Hà Nhật sáng nào đến lớp dạy cũng  lật xem những sáng tác mới của học trò. Bây giờ thầy 77 tuổi, trò đứa nào cũng 64, 66 cả rồi, mà gặp nhau thầy trò cứ thơ phú suốt đêm.
              Những năm 60 của thế kỷ trước, thơ không vần ở nước ta  mới chỉ là những sáng tác thể nghiệm của một vài tác giả . Ngay ở Hà Nội , nhà thơ có thế lực Nguyễn Đình Thi làm thơ không vần cũng bị phản đối quyết liệt. Thậm chí theo Hoàng Cầm trong hồi ức “ Nguyễn Đình Thi trong tôi- Nguyễn Đình Thi ngoài tôi”: “  anh Thi đến nhà xuất bản Văn nghệ đưa cho tôi đọc tập thơ Người chiến sĩ..., và anh Thi yêu cầu tôi cho ấn hành ngay, càng sớm càng tốt. Tôi đọc xong, rất thú vị vì vẫn còn nguyên những bài thơ thể tự do. Bấy giờ (1956) mà in được những bài thơ cách tân ấy thì thật có lợi cho phong trào thơ... “. Nhưng sau đó do sức ép của “cấp trên”, nhà văn Nguyễn Đình Thi phải xin lại bản thảo, sửa chữa tập thơ Người chiến sĩ  thành những bài thơ theo vần truyền thống , thật tiếc !
             Còn ở các tỉnh lẻ được xem là vương quốc của bảo thủ trong thơ. Những năm 1958 - 1975, nhà thơ Xuân Hoàng phụ trách Hội Văn Nghệ Quảng Bình, ai muốn in thơ phải viết có vần mới được in Tạp chí của Hội . Ây thế mà những bài thơ không vần của Hà Nhật viết ở Đồng Hới, nơi “tỉnh lẻ của tình lẻ”, lại nhuần nhuyễn, lung linh như những viên ngọc, ai cũng thích. Mới hay, thơ phải từ trái tim đến với trái tim . Miền quê nghèo khó đầy gió cát Quảng Bình đã sinh ra những nhà thơ trứ danh  Thơ Mới, cả hiện đại và siêu thực như Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh ... từng một thời đi tiên phong trong làng thơ Việt Nam.
              Thầy Cán dạy văn giỏi ( ở Đồng Hới thời đó có câu ngạn ngữ : Văn Cán- Toán Trình , tức tức muốn văn giỏi phải học với  thấy Lương Duy Cán, muốn giỏi toán phải học với thấy Đoàn Trình ) và làm thơ hay nên rất nhiều thế hệ học sinh thuộc thơ thầy. Thơ Hà Nhật khảm vào trí nhớ độc giả bao thế hệ. Có người thuộc mấy bài, một bài, có người chỉ thuộc một khổ thơ hay ý thơ. Họ ngồi với thầy bên chén rượu, đọc lên, rồi chắp nối lại từ trí nhớ, thành bài thơ hoàn chỉnh. Nhờ đó mà từ năm 2007 đến 2009 thầy đã ra Huế, Đồng Hới, Nghệ An “sưu tầm” lại được mấy chục bài thơ đã thất lạc để in tập thơ kỷ niệm cuộc thơ đời mình Đá sỏi trên đường. Hàng trăm bài thơ thầy không tìm lại được, vẫn  ở trọng trí nhớ của người đời. Ví dụ thầy giáo dạy văn cấp 3  Đồng Hới Hoàng Quang Đông, một học sinh của thầy Cán, thuộc cả trường ca về Đồng Hới của thầy Hà Nhật viết từ những năm 60 của thế kỷ trước. Anh Đông bảo với tôi, mình đã đánh máy lại để gửi cho thầy. Có lẽ rất ít nhà thơ “có bảng hiệu” ở nước ta có được cái ân huệ “sưu tầm thơ mình trong công chúng” như Hà Nhật. Đó chính là sức sống lâu bền của thơ và nhà thơ trong trời đất!
        Thơ Hà Nhật bị thất tán nhiều cũng do thi sĩ rất thích xê dịch, tính lãng tử. Ai rủ đi là đi ngay. Đi thâu đêm thâu ngày. Có chén rượu , có người đẹp thì đọc thơ suốt đêm.  Năm 1972, một nửa Quảng Trị được giải phóng, Hà Nhật đạp xe ngay vào Đông Hà, rồi cùng ông bạn thơ đồng niên Hoàng Phủ Ngọc Tường ngao du mấy ngày đêm miên man trên đất Quảng Trị còn nóng bỏng lửa bom.   Bởi thế ,gặp lại Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hà Nhật đã có thơ tặng bạn rưng rưng: Hãy cạn ly đi Tường ơi / Không  uống được vào môi / Thì nhấp bằng mắt vậy / Để ta nhớ một thời sôi nổi / Ngang dọc hai ta một dải đất gió Lào (“Uống rượu với Tường”).
           Sau 30-4- 1975, máu lãng du lại thôi thúc Hà Nhật tìm về phương Nam  Chuyến “Hành phương Nam” ấy thầy về dạy học ở Phan Rang, Phan Thiết một thời gian, gặp chị Thanh Phương mới neo đậu lòng mình, rồi vào Sài Gòn làm giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm.  Dạy học, nhưng thầy luôn  gắn với thơ. Thầy viết sách bình giảng thơ cho Nhà xuất bản, bình thơ cho chương trình văn nghệ của đài truyền hình TP Hồ Chí Minh,...  
          Chuyện Hà Nhật làm thơ thời đó đã lây nhiễm sang một thế hệ đàn em như Hoàng Vũ Thuật, Lâm Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Mai Văn Hoan, Lê Đình Ty, Trần Nhật Thu.v.v... Cách sinh hoạt thơ của các nhà thơ này cũng giống thầy Hà Nhật. Có người đẹp là rủ nhau mang rượu đến đọc thơ suốt đêm. Người đẹp là cái cớ để giải bày tâm trạng. Có người đẹp là thức suốt đêm làm thơ để tặng. Làm  bài này đến bài khác, có khi cả năm ròng. Tặng xong thơ yêu là sung sướng, chẳng cần in ấn ở đâu cả. Nếp sinh hoạt đó luôn tạo ra một không khí thơ sôi nổi, dào dạt của cái tôi trữ tình chân chất.

                                                           Huế, tháng 7-2012
-------------------------------------
(*) Đá sỏi trên đường, thơ Hà Nhật , NXB Hội Nhà văn, 12-2011




Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

KỶ NIỆM 34 NĂM LỄ CƯỚI MẾN THUẬN



Hôm nay 12-11-2012 hai ông bà kỷ niệm 34 năm lễ cưới bằng bữa trưa đạm bạc cùng với các ảnh ngày xưa:











(Vĩnh Thuận - Ngọc Hà - 12/11/2012 - 14g30)


Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

ALAN PHAN viết về chính khách


Tia Sáng - 09:53-10/11/2012 
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=5853

Obama, Romney, và...

Alan Phan

Năm 2008, tôi bầu cho Obama. Tôi nghĩ biểu tượng của một người da đen làm Tổng Thống Mỹ là một thông điệp quan trọng cho thế giới về những thay đổi lớn lao trong cảm nhận của xã hội Mỹ. Nó xác nhận lại niềm tin ngây thơ nhưng bền vững là bất cứ một đứa bé nào lớn lên nơi đây, không kể nghèo giàu, không kể mầu da sắc tộc, đều có cơ hội để nắm giữ chiếc ghế lãnh đạo quyền lực nhất của “đế chế Mỹ”.

Năm 2012, tôi bầu cho Romney. Thực ra, tôi cũng chẳng mong đợi gì nhiều ở Romney. Bản chất ông cũng chỉ là một chính trị gia, dù biết nhiều hơn Obama về cách kiếm tiền trong một nền kinh tế thực, vẫn là một “con rối” ham danh tham quyền.

Kể từ năm 1980 khi tôi chánh thức trở thành công dân Mỹ, tính ra tôi đã đi bầu 16 lần hay nhiều hơn, nếu tính luôn các cuộc bầu cử sơ bộ và địa phương. Phần lớn, tôi đều hối tiếc cho sự lựa chọn của mình. Vì những kẻ được tôi bầu dù có thêm chữ Ngài Tổng Thống, Ngài Nghị Sĩ, Ngài Đô Thị Trưởng, Ngài Nghị Viên… vẫn hiện nguyên hình là những kẻ lạm quyền … và luôn luôn sử dụng OPM (tiền người khác) với một phong cách rất… yêu nước thương dân.

Cũng may là tôi sống ở xứ Mỹ, những ông, những ngài này bị quyền tự do ngôn luận và cơ chế phân quyền soi mói 24/7, nên những thói hư tật xấu bị kiềm chế tối đa. Nếu thả lỏng, với một ngân sách 4 ngàn tỷ đô la, một lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới và một thói quen in tiền bừa bãi, thì hẳn là họ sẽ thành những con quỷ mà các chuyện cổ tích cũng không hình dung nổi.

Thú thực tôi chưa bao giờ có quyền lực gì trong 67 năm qua. Cho nên có thể tôi không đồng cảm hay “ghen tị” với các bạn đầy tớ. Một anh không hút, không nhậu…không thể biết cái “phê” của rượu thuốc. Một anh sư (tùy loại) không thể hiểu được cái tuyệt vời của sex. Chưa làm quan và chưa biết cái sung sướng của việc…hành hay hiếp dân, thì đừng nói vớ vẩn.

Nhưng với kinh nghiệm cá nhân qua nhiều tiếp xúc giao thiệp, tôi đã thấy “quyền lực” biến thái cá tính và hành xử của con người “thực”như thế nào. Khi công việc làm ăn phất lên vào thập niên 90’s và 00’s, tôi có quen nhiều chính trị gia Mỹ cũng như ngoại quốc. Quen vì bắt buộc của nghề nghiệp (nhất là khi đi bán máy bay cho GE Capital) hay vì xã giao cần cho networking (làm fund raiser cho các tổ chức hội đoàn). Nhưng thâm tâm, tôi cũng say mê và bị hấp dẫn bởi những nhà “lãnh đạo” đang “làm lịch sử” và “tạo tương lai”. Tôi lắng nghe từng chữ từng lời về những kế hoạch vĩ đại, những toan tính thần kỳ, những ích quốc lợi dân…và để tưởng tượng bay cao với những “chân thành của con tim nhiệt tình”. Tôi lăn xả làm rất nhiều việc chùa để giúp các bạn lãnh đạo của tôi hoàn thành sứ mệnh cao cả. Chỉ sau vài năm, tôi mới nhận rõ  nhiều cô gái đứng đường còn lương thiện hơn không ít các bác"lãnh đạo" đó.

Trong các chánh trị gia Mỹ tôi khá thân với 2 người. Một là Jack Kemp, từng làm thủ quân đội bóng bầu dục của Buffalo, rồi dân biểu, bộ trưởng và sau ra tranh cử chức Phó Tổng Thống Mỹ trong liên danh Bob Dole. Jack nghiêm túc, nhưng chí tình và trung thành với bạn bè. Tôi bỏ suốt 3 tháng theo anh mỗi ngày khi anh tranh cử chống Clinton-Gore (và thua). Tôi luôn nhăn mặt và tránh không nghe các diễn văn và phát biểu mỗi ngày trên bước đường vận động; vì anh chỉ nói những gì đám đông muốn nghe theo những khảo sát “thị trường” của các tư vấn. Muốn biết Jack, phải lè phè thư giãn cùng anh vào những đêm khuya, cạnh vài lon bia và miếng pizza nguội lạnh. Anh sâu đậm, sống nhiều hiểu rộng, có tính khôi hài đen và nhiều nghị lực khủng khiếp. Nhưng khi mặt trời mọc mỗi ngày, con người Jack biến mất, nhường chỗ cho chính trị gia Kemp, nói và làm như một diễn viên Holywood đại tài.

Joe Biden cũng là một khuôn đúc tương tự. Xuất thân là một luật sư, ông đã là chính trị gia gần như suốt đời, trong đó, 40 năm làm Thượng Nghị Sĩ. Tôi quen ông qua người bạn tỷ phú James DeRosa và đã làm cổ động viên cũng như fund raiser suốt 20 năm vừa qua. Như Jack, Joe là một người tử tế, lương thiện và vô cùng thông thái về chuyện chánh trị cũng như liên hệ trên thế giới. Ông có thể kể răm rắp hiện tình của Ukraine hay Nepal mà không cần hồ sơ bên cạnh. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ ghé văn phòng hay dự bất cứ cuộc vận động nào của ông vì không muốn nhìn chính trị gia và diễn viên Biden. Cách đây vài năm, trước khi ông thành Phó Tổng Thống, tôi cùng ông chạy bộ qua khu rừng cạnh nhà ông ở Delaware. Mệt và khát nước, ngài Nghị Sĩ chạy vào một nhà lạ, uống nước qua vòi tưới vườn thật thư thái bình dân.

Dĩ nhiên, các quan chức ở Trung Quốc và Đông Nam Á nơi tôi làm ăn cũng có rất nhiều chất “người” khi thả lỏng và không bị ràng buộc bởi những lễ nghi phong cách của quyền lực. Với gia đình và bạn bè, tôi chắc chắn họ cởi mở và thân tình như có thể. Thực ra, tôi đã từng được một ông cựu bộ trưởng quyền lực nhất của Việt Nam đọc cho nghe vài bài thơ tình thật tuyệt. Nếu ông làm một thi sĩ như bản ngã, chắc chắn sự đóng góp của ông cho đất nước sẽ nhiều gấp bội.

Tôi chưa bao giờ theo dõi kết quả của các cuộc bầu cử, ngay cả lần với Jack. Bởi vì nó chẳng thay đổi được gì ngoài ảnh hưởng đến cá nhân và gia đình của ứng cử viên. Jack là một cận thần khá thân của Tổng Thống Reagan và Bush (cha) nên anh rất rõ về những giới hạn của quyền lực. Ngoại trừ những vấn đề mà dân Mỹ hoàn toàn không quan tâm, vị Tổng Thống Mỹ thường phải quyết định theo đúng những đường lối, chánh sách mà phe nhóm ông đã thương thảo, thỏa hiệp với các phe đối lập, đôi khi ngược hẳn lại những gì ông mong muốn hay hứa hẹn. Với bao nhiêu thỏa hiệp mỗi ngày, riết rồi vị Tổng Thống không còn nhận ra chương trình nào là của mình nữa. Một Tổng Thống giỏi là khi mãn nhiệm kỳ, ông vẫn còn là ông.

Cho nên Obama hay Romney…, tôi vẫn là tôi. Mỗi ngày vẫn cần một viên Carvedilol cho trái tim, một viên Viagra cho trái thận và một viên Glucosamine cho xương khớp. Chỉ mong rằng vào 2016, Beyonce Knowles sẽ tranh cử với Megan Fox để thế giới có chút tươi mát. Và chúng ta sẽ tự hào biết bao nhiêu nếu lãnh đạo của chúng ta được tạp chí Cosmo bầu chọn là con người sexy nhất hành tinh?

(Vĩnh Thuận sưu tầm 11/11/2012 - Ngọc Hà)

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Bài của Alan PHAN



Alan Phan

Vẫn chưa chịu chết …


T/S Alan Phan
“Những gì không thể đứng thẳng, những gì đang bị đe dọa, những gì đang rung chuyển theo từng cơn gió…rồi sẽ gẫy đổ theo thời gian. Nhưng bình minh sẽ theo sau bóng tối. Sự tái sinh không thể xẩy đến trước cái chết…” Robert M. Price.
Nếu trong 6 tháng tới, giá BDS xuống thêm 25 đến 30% thì chúng ta có thể coi như là bong bóng đã vỡ. Hệ quả là sự tiếp tục xuyên đáy thêm khoảng 30% kéo dài ít nhất là 2 năm. Dĩ nhiên tôi chỉ muốn nói đến phân khúc chung cư trung bình và cao cấp tại Hà Nội và HCM. Các loại BDS khác như biệt thự, đất nền, nhà phố, căn hộ rẻ, vùng ven đô, thương mại, văn phòng …sẽ bị ảnh hưởng lây, nhưng cường độ và thời điểm có thể thay đổi ít nhiều.
Và khi nói đến bong bong vỡ…nhiều người hình dung ngay đến những hoang tàn thường thấy sau những trận ném bom thời chiến… Thực tại không bi kịch như vậy đâu. Thậm chí, phần lớn người dân có thể không quan tâm và ăn nhậu bình thường theo đúng phong cách “makeno” của xã hội.
Tại sao bong bóng phải vỡ mà không xì hơi?
Bởi vì muốn tiếp tục bơm, chúng ta cần hơi. Những thành phần muốn giữ cho bong bóng căng tròn như chánh phủ, ngân hàng, công ty BDS, nhà đầu cơ thứ cấp…đều đã hết hơi. Việc in tiền xả láng để bơm hơi cũng không còn khả thi vì hậu quả của lạm phát. Không quan chức nào dám để dân phải mang bao bố tiền đi mua 1 ổ bánh mì. Tất cả lực đỡ của BDS bây giờ chỉ còn một giải pháp là 50 tỷ USD vàng và ngoại tệ trong dân sẽ được đem ra quăng vào BDS, cách này hay cách khác. Dù các quan chức hồ hởi chuyện huy động được 60 tấn vàng trong dân mấy tháng vừa qua, tôi cá rằng chánh phủ hay các công ty BDS sẽ không moi móc thêm một đồng nào. Dân trí có thấp đến đâu, đồng tiền vẫn sẽ liền với khúc ruột, kể cả ruột ngàn dặm.
Các thành phần nào trong dân sẽ chịu nhiều ảnh hưởng nhất?
Khi bong bóng BDS vỡ, nợ xấu ngân hàng sẽ tăng gấp 3 lần và có lẽ hơn 50% các ngân hàng tư nhân sẽ phá sản. Đây chỉ là một ước tính có nhiều xác suất sai lạc, vì hiện nay, các thống kê về tài chánh công tư của Việt Nam khá mù mờ và mâu thuẫn. Dân gởi tiền được bảo hiểm đến 50 triệu đồng, do đó phần lớn tài khoản sẽ an toàn. Số ngân hàng còn sống sót sẽ được sự hổ trợ đặc biệt của NHNN nên thanh khoản cũng sẽ khá cao. Vì 70% dư nợ của ngân hàng hiện nay là do các tập đoàn tổng công ty nhà nước vay, nên ảnh hưởng trực tiếp sẽ không gây xáo trộn gì trong vận hành kinh tế vĩ mô (vẫn trì trệ).
Tuy nhiên, ảnh hưởng gián tiếp sẽ đầy dẫy. GDP có thể quay về zero tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp sẽ cao gấp đôi, sức tiêu thụ của người tiêu dùng co cạn và lạm phát có thể tăng quá 2 con số (tùy theo mức độ in tiền).
Khi bong bong vỡ, thành phần giàu có (khoảng 5% dân số) sở hữu nhiều tài sản từ BDS, chứng khoán, vốn riêng của doanh nghiệp và các đầu tư khác sẽ chịu thiệt hại nặng nề. Tuy vậy, một số nhỏ đại gia dùng đòn bẫy vay mượn cao ngất, có thể lợi dụng tình thế mà xù nợ hợp pháp.
Thành phần trung lưu, công tư chức và mua bán nhỏ (khoảng 20% dân số) cũng sẽ đối diện với thất nghiệp, sức tiêu thụ giảm và lạm phát cao, nhưng có thể thắt lưng buộc bụng và vượt bão an toàn.
Thành phần còn lại (75% dân số) sẽ khổ sở chịu đựng thêm một thời gian dài với mức sống khá cơ cực so với các nước láng giềng. Tuy nhiên, họ không có nhiều tài sản để bị tổn hại hay mất mát. Gặp khó khăn ở các thành phố và khu công nghịệp, họ sẽ rút về quê cũ sống qua ngày, đợi chờ cơ hội khác.
Thành phần hưởng lợi trong 2013 là những người dân có tiền mặt, dễ dàng thu mua tài sản với giá cực rẻ. Những hiện tượng tích cực khác gồm việc bớt giao thông (ít kẹt xe thì ít bị ô nhiễm hơn), bớt ăn nhậu (ít bệnh và ít tệ nạn xã hội hơn), bớt tham nhũng (ít dự án và ít nhu cầu giấy tờ)…
Bài toán căn bản hiện nay
Theo thống kê mới nhất của NHNN, tổng dư nợ của tất cả ngân hàng thương mại (quốc doanh và tư nhân) là 2.89 triệu tỷ đồng (140 tỷ USD) vào cuối tháng 10. Nếu chi phí đồng tiền (cost of money) là 15% mỗi năm, lãi suất cho số nợ trên là 21 tỷ USD mỗi năm, không tính nợ gốc. Nếu 70% doanh nghiệp toàn quốc vay nợ và chỉ sản xuất ra 77 tỷ USD mỗi năm (dựa trên 70% của GDP năm 2011), thì mỗi USD kiếm được, họ phải chi ra 29 xu (hay 29% doanh thu) để trả lãi suất. Trừ việc mua bán ma túy hay buôn gái, không một ngành nghề kinh doanh nào có thể sinh lợi để giải quyết bài toán này. Không xóa bỏ hết để lập bàn cờ mới, nền kinh tế Việt Nam, bất kể định hướng nào, sẽ loay hoay với vấn nạn này trong cả chục năm tới.
Nhìn lại lịch sử kinh tế của nhân loại, chuyện bong bong tài sản căng nóng rồi vỡ tan là một hiện tượng khá binh thường, qua mọi thời đại với mọi sắc dân trong mọi định chế. Biện luận Viêt nam là một ngoại lệ, cần giải pháp đặc thù hay có một kết cục tốt đẹp không thuyết phục lắm. Ngay cả quyết tâm của các chánh quyền cố gắng ngăn cản sự đổ vỡ cũng thường xẩy ra, thường làm chậm tiến trình, nhưng sau cùng cũng vô hiệu. Ai cũng biết là ung nhọt phải vỡ để da thịt mau lành. Sau một trận lửa lớn, cây cối trong khu rừng thường xanh tốt hơn.
Chấp nhận định luật của thiên nhiên, trả giá cho những sai phạm trong quá khứ và tiếp tục hành trình của đổi mới và sáng tạo. Hãy dành thì giờ lên kế hoạch cho một tương lai mới theo những tiền đề và thay đổi của tình thế. Đừng loay hoay với những điều chỉnh nửa vời, qua những thỏa hiệp với nhiều phe nhóm lợi ích và lợi dụng.
Tệ nhất là lấy tiền của 95% nhân dân đi cứu trợ cho 5% dân giàu có.
Phải dứt khoát là “hãy để chúng chết đi”.
T/S Alan Phan là một doanh nhân bôn ba làm ăn trên 43 năm qua tại Mỹ và Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại các đại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) và Southern Cross (Úc). Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.