Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Kỷ niệm 150 năm Đảng XHDC Đức

Diễn văn của Tổng thống CHLB Đức,
Joachim Gauck,

tại lễ kỷ niệm 150 năm ngày thành lập
Đảng Xã hội dân chủ Đức (SPD)

Nguyễn Trungdich, chú giải, và bình luận

Leipzig, 23 tháng 5 năm 2013

          Một dịp hiếm có và đầy tự hào đoàn tụ chúng ta tại đây hôm nay: Đảng Xã Hội Dân Chủ Đức kỷ niệm lần thứ 150 ngày sinh của mình. Không một đảng nào khác tồn tại lâu như vậy, bởi lẽ những mục tiêu phấn đấu cơ bản của đảng này đã và luôn luôn có tính thời sự với nội dung mới, đó là: Các quyền tự do, công bằng xã hội, quyền tham dự vào chính trị.

          Đây là ngày kỷ niệm của đảng lâu đời nhất nước Đức. Đây cũng là ngày lễ của châu Âu đấu tranh cho tự do và dân chủ. 150 năm này là cả một thiên lịch sử đầy những thắng lợi và thất bại, những cuộc chiến tranh khủng khiếp và tàn bạo, các cuộc nổi dậy và sự đàn áp; có thể nói đấy là các cuộc nổi dậy luôn luôn với nhận thức cho rằng các xã hội có thể thay đổi, dân chủ là có thể thực thi, nếu như chúng ta hiểu rõ được chúng ta phấn đấu, bảo vệ hay phải giành lấy những giá trị gì, và nếu như chúng ta đủ dũng cảm vượt qua được mọi đàn áp.

          Mọi chuyện tùy thuộc vào việc chúng ta đã và luôn luôn dám đối mặt với tâm trạng cảm thấy mình bất lực, dám như thế vì chính mình và vì những người khác, dám tiến tới những bước phát triển mới. Với ý chí không gì lay chuyển nổi, nhiều nam nữ đảng viên Đảng Xã hội Dân Chủ Đức đã phấn đấu như vậy trong suốt quá khứ đầy biến động của đảng mình, dám xả thân cho niềm tin của mình, để đẩy mạnh phong trào, để giành được sự công nhận của xã hội, giành lấy sự tồn tại của chính mình, và nhiều người đã hy sinh.

          Những con người dũng cảm này gửi lại chúng ta di chúc: Không nên coi lễ kỷ niệm hôm nay chỉ là “nơi để tưởng nhớ”. Nhìn vào nhiệm vụ của mình trong tương lai, chúng ta phải tự hỏi: Khẩu hiệu “Tiến lên!” (“Vorwaerts!”) [1]  của hôm qua sẽ có ý nghĩa gì đối với triển vọng sắp tới nhìn từ hôm nay?

          Xin các quý vị hãy cho tôi bắt đầu từ năm 1863, xin hãy nhớ đến sự nghèo khốn, sự bóc lột, nhớ đến những điều kiện lao động mà ngày nay chúng ta chỉ thấy ở một số nước đang phát triển mà chúng ta từng phê phán; xin thưa đấy cũng chính là đời sống ngột ngạt thường ngày của hàng triệu người Đức thời đó. Thử hỏi những người thời ấy dám nổi dậy đấu tranh sẽ có thể lựa chọn như thế nào: Nên chăng đấy sẽ là sự nổi dậy để dẫn đến cách mạng, để rồi lại thiết lập nên một nền thống trị mới của những người trước đó đã từng bị áp bức? Tình hình đã đến mức gần xảy ra một kịch bản như thế. Nhưng Ferdinand Lassalle – người đã từng trải qua cuộc cách mạng 1848 ở tỉnh Rhein – đã tìm thấy đáp án khác cho nghèo khốn và áp bức. Ngày nay trong tai chúng ta chúng ta vẫn còn vang lên cương lĩnh của ông: Thay đổi xã hội bằng chính sách giải phóng con người, nhằm tạo ra sự tham gia của quảng đại quần chúng nhân dân vào chính sự. Mục tiêu này trước hết bao gồm giáo dục, cưỡng bách giáo dục đối với mọi người, đương nhiên bao gồm cả những nghiệp đoàn giáo dục tự lập của công nhân nhằm giúp mỗi cá nhân có thể thăng tiến nhờ có hiểu biết qua học hỏi. Giải phóng con người  bằng cách thực hiện tham gia vào các quyền đã ghi thành luật, nhất là bằng cách mỗi người tự nâng cao quyền năng của mình. Cách đây 150 năm những đòi hỏi này là cách mạng, và hôm nay vẫn còn rất hiện đại.

          Trong thời kỳ Đảng Xã hội Dân chủ Đức mới được thành lập, đương nhiên phải đặt cuộc đấu tranh vì những quyền bình đẳng của cộng đồng công nhân bị áp bức lên trước. Cương lĩnh Eisenach năm 1869 ghi rõ, đấy là bầu cử tự do, bình đẳng trong cả nước, bất chấp sự khác biệt về đẳng cấp xã hội của những người tham gia bầu cử, là cấm lao động trẻ em, là các tòa án phải độc lập.

          Trong cuộc đấu tranh triền miên trong nội bộ đảng XHDCĐ, cuối cùng quan điểm đã thắng thế là: không thiết lập một đặc quyền giai cấp mới nào. Vì không thể đáp trả sự bất bình đẳng bằng cách thiết lập nên một sự bất bình đẳng mới. Hơn ba thập kỷ sau khi Lassalle thành lập ĐXHDCĐ, Eduard Bernstein, nhà lý luận nổi tiếng và cũng là người bị đả kích rất nhiều của ĐXHDCĐ, đã mô tả: “dân chủ phải vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu”. Đối với tôi, trong nhãn quan chính trị mới này hàm chứa một trong những cống hiến lịch sử vĩ đại nhất của đảng XHDCĐ.  Hồi ấy, ĐXHDCĐ đã rất sớm làm cho dân chủ có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng trong một bộ phận đáng kể của tầng lớp công nhân và phong trào xã hội chủ nghĩa ở nước Đức. Chính là ĐXHDCĐ đã đấu tranh cho cải cách, chứ không phải cho việc làm cách mạng. Và cũng chính là ĐXHDCĐ đã kiên trì  con đường của mình và cuối cùng đã vận động được đa số tham gia, với cái đích là cải thiện từng bước cụ thể đời sống con người, thay vì công bố những mục tiêu không tưởng xa vời.

          Nhưng phong trào cộng sản thế giới đã quyết định cho mình con đường khác – hiển nhiên với những hệ quả vô cùng khủng khiếp. Phong trào này đã thiết lập nên một giai cấp nắm quyền mới, và thay thế sự thống trị cũ bằng một sự thống trị mới. Còn tự do, công bằng xã hội, sự ấm no… người công nhân phải mong ngóng một cách vô vọng.

          Chính vì thế, ngày nay chúng ta càng đánh giá cao những nỗ lực cải cách của phong trào xã hội dân chủ. Nhờ những nỗ lực này, chúng ta lần đầu tiên có được Luật Bảo hộ lao động, Luật về Quyền tham gia bầu cử của phụ nữ, và nhiều điều khác nữa. Thể chế dân chủ đầu tiên của nước Đức – cụ thể ở đây là Nền Cộng hòa Weimar – sẽ không thể thiết lập được, nếu như các đảng viên xã hội dân chủ - đứng đầu là Friedrich Ebert và Philipp Sheidemann – không có can đảm phấn đấu cho sự hợp tác chính trị với những lực lượng to lớn khác của các đảng phái tư sản. Đặc biệt là, các đảng viên xã hội dân chủ đã đấu tranh kiên cường hơn, bền bỉ hơn nhiều nhà dân chủ khác trong việc bảo vệ nền cộng hòa này. Các đảng viên xã hội dân chủ đã nêu cao lý tưởng của mình về tự do, bình đẳng và đoàn kết, quyết đấu tranh chống lại mọi kẻ chỉ muốn áp bức và chiến tranh.

          Không thể nào quên bài nói của Otto Wels ngày 23-03-1933 tại Quốc hội Đức, giữa lúc quốc xã đã bắt giam nhiều người chống đối, đồng thời khiến nhiều người chống đối khác phải sống lưu vong. “Người ta có thể tước đoạt mạng sống và tự do của chúng tôi, nhưng danh dự của chúng tôi thì không bao giờ!..”  Bài nói ấy của Otto Wels quả là “can đảm nhất chưa từng có tại Quốc hội Đức” - đúng như Peter Struck đã nhận xét.

          Chúng ta nên ghi nhớ, bằng cách nói “Không!” với cái  gọi là Đạo luât Ủy quyền[2], hồi đó 94 nghị sỹ của ĐXHDCĐ chẳng những đã cứu danh dự của chính mình, mà còn cứu cả danh dự của thể chế dân chủ đầu tiên của nước Đức (nền Cộng hòa Weimar – ND chú giải). Những con người ấy đã hiến tặng mọi người Đức chúng ta một trang sử chính nghĩa của dân chủ - đấy cũng là sự đối nghịch hoàn toàn đối với tội lỗi và sự hổ thẹn (của sử nước Đức – ND chú giải), đấy cũng là một kinh nghiệm quý báu cho thấy con người ta có thể kiên định với những giá trị của mình - cho dù bị bêu giếu, bị làm nhục, bị đầy đọa. Ngày nay chúng ta trân trọng với tinh thần biết ơn sự can đảm của họ.

          Trong hàng ngũ những người này có Kurt Schumacher, một trong những nghị sỹ đã bác bỏ cái gọi là Đạo luật Ủy quyền. Sau hàng chục năm bị giam trong trại tập trung, khi chiến tranh kết thúc, ông đã chống lại sự quyến rũ muốn thành lập một đảng công nhân bao gồm những người xã hội dân chủ và những người cộng sản. Bởi vì ông nhận ra rằng – xin trích lời ông – Đảng Cộng sản Đức “không phải là một giai cấp Đức, mà là một quốc đảng xa lạ”. Tại miền Đông nước Đức, Đảng Xã hội Dân Chủ Đức chính thống xưa kia mãi đến sau năm 1989 (khi CHDC Đức sụp đổ - ND chú giải) mới được tái lập. Tôi vô cùng biết ơn vì điều này.

          Ngược lại, ở miền Tây nước Đức, ĐXHDCĐ đã tham gia một cách có ý nghĩa quyết định cùng với những người thuộc đảng bảo thủ và đảng tự do, làm cho Cộng Hòa Liên Bang Đức có thể hoạt động có hiệu quả, với thẩm quyền rộng rãi, trở thành một “liên bang dân chủ và xã hội” như đã quy định trong Đạo Luật Cơ Bản, và chúng ta đều biết Đạo luật này được ban hành cũng ngày 23 tháng 5[3].

          Ngày nay chúng ta đều biết thể chế dân chủ của chúng ta thật vững chãi, cho dù đôi lúc suy yếu tùy theo tình trạng của các đảng phái. ĐXHDCĐ chẳng những có thể nhìn nhận lại truyền thống lâu đời nhất của mình. ĐXDCĐ còn phải thực hiện sự thay đổi rất sâu sắc từ bên trong. Đơn giản vì ĐXHDCĐ ngày nay không còn là đảng của giai cấp nữa. Trong quá trình học hỏi lâu dài và gian khổ,  ĐXHDCĐ đã phải tự phát triển mình để trở thành đảng của nhân dân. Cương lĩnh Godesberg năm 1959 đã xác định, củng cố và thúc đẩy sự cải tổ này.

          Đối với hầu hết chúng ta, những cống hiến của ĐXHDCĐ cho CHLBĐ thật rõ ràng. Tôi xin kể ở đây những cải cách xã hội được tiến hành trong những năm thập niên 70 dưới thời Willi Brandt, giai đoạn đầu tiên đổi mới của Chính sách phương Đông mở cửa hướng sang Cộng Hòa Dân Chủ Đức và các nước láng giềng Đông Âu, chính sách này đã giúp vén lên bức màn sắt.

          Cuốn phim (chiếu trong lễ kỷ niệm này – ND chú giải) cũng cho chúng ta thấy những cống hiến của Thủ tướng Liên bang Helmut Schmidt và Gerhard Schroeder, cả hai vị này hôm nay cũng có mặt tại đây cùng với chúng ta. Các nhiệm kỳ thủ tướng của hai vị gắn liền với những cống hiến lâu bền của ĐXHDCĐ đối với CHLBĐ.

          Trong suốt 150 năm qua vấn đề cốt lõi của xã hội dân chủ là: xã hội đoàn kết, thể chế dân chủ thường xuyên được cải thiện. Nhưng trong thế giới thay đổi ngày nay, nhiều thách thức mới đang đặt ra cho ĐXHDCĐ cũng như cho các đảng khác. Trong đó vấn đề trung tâm là các đảng phải luôn luôn là một bộ phận của một xã hội công dân tự lớn mạnh, và nhờ đó luôn luôn tạo ra được những mối ràng buộc vững chắc cho một chương trình chính trị tổng quát (được hiểu là  chiến lược phát triển – ND chú giải).

          Nhiệm vụ này không hề dễ, bởi vì trong những năm qua chúng ta đã chứng kiến nhiều phong trào phản đối; những phong trào này nhiều khi cực đoan hơn các chính đảng, thường tập trung chỉ vào một vấn đề, và những phong trào này tư coi mình là đối thủ của các đảng. Những phong trào này cho thấy nhiều công dân muốn phải có tiếng nói của mình. Tôi hoan nghênh và ủng hộ điều này. Các đảng không nên lo sợ về hình thức tham gia này của công dân, mà ngược lại nên coi đấy là một hệ thống cảnh báo sớm, để nhờ đó có thể luôn luôn đi cùng với thời cuộc. Về phần mình, các đảng cũng cần phải có những phương thức tham chính mới, để từ đó làm cho sự năng động của mình tìm thấy hướng đi trong cuộc sống hàng ngày của nền dân chủ đại nghị của chúng ta. Tóm lại: Hình thức tham chính mới có một vai trò bổ sung quan trọng, nhưng dứt khoát không thay thế cho dân chủ đại diện.

          Một lần nữa chúng ta hãy nghĩ xem, điều tôi vừa trình bầy có thể thấy rõ trong vấn đề: Các sáng kiến của công dân thường đại diện  những mối lợi ích riêng biệt – nhìn chung là chính đáng; trong khi đó ngược lại các đảng phải hướng về cái chung nhiều hơn, phải để mắt vào cái tổng thể. Thậm chí đôi khi các đảng có thể thành công trong việc tác động vào những cử tri của mình để lựa chọn những quyết định mâu thuẫn với đường lối hiện hành đến nay hoặc những lợi ích ngắn hạn của đảng. Tôi hiểu, trong phạm vi nội bộ một đảng điều này không được ưa chuộng lắm. Nhưng mà chúng ta đã chứng kiến: Chính những quyết định như thế thường là những quyết định có ý thức trách nhiệm đối với cả nước.

          Hôm nay tôi chúc mừng ĐXHDCĐ 150 tuổi. Cho tôi nói lời cảm ơn và đánh giá cao đối với những người suốt 150 năm qua đã đấu tranh cho tự do, công bằng và đoàn kết và qua đó đã cải thiện đời sống của hàng triệu người.

          Cùng với lời cảm ơn ĐXHDCĐ, tôi đánh giá cao tất cả những ai đang hoạt động trong các đảng dân chủ vì hạnh phúc của tất cả chúng ta – dù đấy là các hiệp hội tại các địa phương hay là trong khung khổ Chính sách Châu Âu, dù họ là làm việc nghiệp dư hay chuyên nghiệp. Cống hiến của họ đã góp phần vào những thành tựu trong nền dân chủ của chúng ta. Vì vậy tôi cũng xin chúc mừng tất cả chúng ta việc chúng ta có các đảng dân chủ. Các đảng này do con người tạo ra, vì thế chúng không hoàn hảo và không tránh khỏi thiếu sót, cho nên cần luôn luôn thực hiện phê bình, tự phê bình và phải chịu học. Các đảng dân chủ ở nước ta là cần thiết cho sự sống của nền dân chủ ở nước ta, và trong tương lai cũng không thể nào thiếu chúng. Với ý nghĩa ấy, xin nhiệt liệt chúc mừng sinh nhật (của ĐXHDCĐ – ND chú giải)!





Một vài cảm nghĩ của người dịch

          Như một phản xạ tự nhiên, đọc xong bài diễn văn này, tôi liên hệ ngay đến nước ta, mặc dù toàn bộ câu chuyện của diễn văn xẩy ra ở nước Đức xa xôi, nghĩa là  – nhìn theo góc cạnh nào đó – chẳng dính dáng tí teo nào đến nước ta.

          Suy nghĩ của tôi đơn giản: Lịch sử 150 năm của ĐXHDCĐ (SPD), về mặt nào đó mà nói cũng phản chiếu lịch sử thất bại của Đảng Cộng Sản Đức và sau này là Đảng Xã hội Thống Nhất Đức – đảng cầm quyền ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức kể từ khi nhà nước này được thiết lập năm 1949, cho đến khi nó bị chính nhân dân của mình lật đổ năm 1989. Thực tế này gợi lên nhiều điều phải suy nghĩ. 

Hai trào lưu: Cải cách và cách mạng vô sản

Trước hết xin thưa, cách dây 150 năm, hoặc thậm chí ít nhiều sớm hơn nữa, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân trên thế giới nói chung và ở nước Đức nói riêng, ngay từ đầu – trước cả khi Marx bước lên vũ đài chính trị với Tuyên Ngôn Cộng Sản - cũng là lịch sử của hai trào lưu đấu tranh khác biệt nhau và đối lập nhau khủng khiếp, gần như giữa nước và lửa. Một bên là trào lưu xã hội dân chủ - được những người mác-xít đặt cho cái tên là “cải lương”, còn một bên là trào lưu của cách mạng chuyên chính vô sản. Cuộc đấu tranh giữa hai trào lưu này – mặc dù cả hai đều thuộc về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế - càng về sau càng đối kháng nhau quyết liệt, chẳng kém gì đấu tranh với kẻ thù giai cấp. Chỉ xin điểm lại, các nhà lý luận mác-xít – kể từ Marx, Lénin trở xuống – đã giành cho trào lưu cải lương và toàn bộ cánh xã hội dân chủ sự bác bỏ tuyệt đối, với những lời lẽ và việc làm nặng nề nhất, không hiếm khi rất đẫm máu trong các chính quyền xô-viết và cộng sản sau này – dù ở châu Âu hay châu Á.

Nhân dịp này, nhìn lại phong trào cộng sản và công nhân thế giới 150 năm qua, có thể khẳng định: Tư tưởng của trào lưu cách mạng vô sản là thực hiện khát vọng xây dựng một xã hội mới không người bóc lột người - mang tên là chủ nghĩa xã hội, với 2 đặc trưng xuyên suốt: Thực hiện chuyên chính vô sản và công hữu hóa tư liệu sản xuất. Sau những bước phát triển ban đầu, phong trào này đạt tới đỉnh cao là thiết lập nên hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa gồm 12 quốc gia, bao gồm toàn Đông Âu và một phần lớn châu Á,  sau này có thêm Cuba.

Hệ thống các quốc gia XHCN này có ảnh hưởng quan trọng tới phong trào độc lập dân tộc trong 2 thập kỷ đầu tiên sau chiến tranh thế giới II, qua đó chi phối 1/3 quả địa cầu. Hệ thống thế giới XHCN phân rã rất sớm, đạt tới hồi kết là sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô Đông Âu trong các năm 1989 – 1991.

Sau chặng đường 150 năm kể trên, cuối cùng thế giới ngày nay đã chứng kiến sự phá sản và thất bại hoàn của trào lưu cách mạng vô sản dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời thế giới cũng chứng kiến: Trào lưu xã hội dân chủ là một trong những yếu tố quyết định đem lại những thành quả quan trọng cho công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động ở hầu hết các nước phát triển – đặc biệt là các nước Bắc Âu. Trong những thành quả ấy, trước hết phải nói tới các quyền tự do, dân chủ của cá nhân con người, các điều kiện để mỗi con người ngày một tự nâng cao quyền năng của mình trong một chính thể dân chủ, cuộc sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân lao động ngày một cải thiện và nâng cao cùng với sự phát triển của đất nước.

Có thể nói một cách tổng quát: Sự phát triển của các nước công nghiệp, kể cả những tiến bộ đạt được trong thể chế chính trị và đời sống văn hóa – xã hội, có sự đóng góp không thể thiếu của trào lưu xã hội dân chủ. Nếu muốn, có lẽ cũng có thể nói: Do sự vận động  bên trong như vậy – trước hết được hiểu là những thắng lợi của trào lưu xã hội dân chủ - và  và do những thay đổi trên thế giới,  chủ nghĩa tư bản tại các nước công nghiệp này đã ngày một bớt đi “mùi đế quốc chủ nghĩa”. Ở phạm vi toàn cầu, chính sự vận động này đã góp phần từng bước đẩy lùi chủ nghĩa đế quốc trên thực tế. Đấy chính là xu thế vận động của thế giới đã diễn ra từ nửa sau thế kỷ 20 và đang tiếp diễn.

 Bản kết toán của trào lưu cách mạng vô sản tại các nước LXĐÂ nói ngắn gọn là: (1)chỉ thành công trong bạo lực đập tan (ở Nga) hay xóa bỏ (ở các nước Đông Âu) sự thống trị của giới cầm quyền áp bức đương thời, (2)nhưng thất bại hoàn toàn trong xây dựng một chế độ xã hội mới; nội dung cốt lõi được đề xướng thành lý tưởng của trào lưu này là giải phóng con người cuối cùng chỉ còn là một khẩu hiệu không tưởng, (3)trên thực tế giai cấp công nhân và nhân dân lao động cuối cùng lại trở thành kẻ bị chính những đồng chí của mình áp bức thống trị trong chế độ toàn trị mới. Chính 3 kết quả cụ thể này trong bản kết toán là những nguyên nhân quyết định, trực tiếp dẫn tới sự sụp đổ của các nước XHCN Liên Xô - Đông Âu 1989-1991.

Trong khi đó, tại các nước công nghiệp có trào lưu xã hội dân chủ phát triển mạnh  – dù là ở Tây Âu hay Bắc Âu – những thành quả tự do, dân chủ và cuộc sống phồn thịnh dành cho con người ngày càng cao và bền vững hơn. Dù chẳng bao giờ hết những vấn đề xấu tồn đọng, song cho đến nay chưa có một nước phát triển nào sụp đổ. Hơn nữa, những quốc gia này luôn luôn tìm được lối thoát ra khỏi mọi cuộc khủng hoảng để đi tiếp. Nhìn chung, thực tế cuộc sống thừa nhận các nước phát triển hiện nay đang là đầu tầu của đoàn tầu thế giới.

Thực tế trình bầy trên khẳng định: Trào lưu xã hội dân chủ tiếp tục có sức sống và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tiến bộ xã hội. Nguyên nhân thật dễ hiểu: Trong bất kể nấc thang phát triển nào của mỗi quốc gia, tự do và các quyền dân chủ cụ thể của công dân luôn luôn là khát vọng thường trực thôi thúc và làm nên con người; cộng đồng ngày càng đông những con người tự do và có quyền năng như vậy trong mỗi quốc gia chính là động lực phát triển quyết định của quốc gia ấy. Hơn thế nữa, tự do và dân chủ là tiền đề cho đòi hỏi tất yếu của đa nguyên chính trị làm nên sức sống quốc gia trong thời đại ngày nay.

Trong khi đó, chủ nghĩa bao giờ và ở bất kỳ đâu cũng chỉ là một giáo điều, trong quá trình vận động luôn luôn bị biến dạng thành tín điều, và cuối cùng bị lợi dụng thành công cụ chuyên chính bóp chết tự do - dân chủ và quyền con người.

Không có chủ nghĩa Mác – Lênin bách chiến bách thắng 

Cần lưu ý một sự thật lịch sử: Cách mạng vô sản xóa bỏ chế độ thống trị đương thời thật ra cho đến nay mới chỉ thành công duy nhất ở nước Nga mà thôi. Thực tế này trái hẳn với dự báo nêu trong Tuyên Ngôn Cộng Sản. Từ những gì quan sát được trên thế giới 150 năm qua cho đến hộm nay, còn có thể nói: Cách mạng Tháng Mười Nga có lẽ cũng là cuộc cách mạng vô sản cuối cùng.

Tại các nước Đông Âu không hề có một cuộc cách mạng vô sản nào cả để vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, dù rằng phong trào cộng sản và công nhân tại những nước này phát triển rất sớm. Hoàn toàn không sai nếu nói rằng: Sự giải phóng của Hồng quân Liên Xô, vai trò tác động của Liên Xô sau chiến tranh thế giới II, và phong trào cộng sản tại các nước Đông Âu là các nhân tố trực tiếp dựng nên chế độ xã hội chủ nghĩa tại các quốc gia này.

Nhưng đúng là chủ nghĩa Mác – Lênin đã được các nước LXĐÂ vận dụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khoảng 4 thập kỷ tồn tại, các chế độ xã hội chủ nghĩa này phá sản hoàn toàn. Năm 1989 các nước XHCN Đông Âu sụp độ. Liên Xô, thành trì của chủ nghĩa xã hội và cũng là dinh lũy của chủ nghĩa Mác – Lênin, sụp  đổ cuối cùng năm 1991.

Chủ nghĩa Mác – Lênin (CNMLN) - phần liên quan đến đấu tranh giai cấp, đến đấu tranh giữa 2 còn đường ai thắng ai?[4] chống chủ nghĩa đế quốc - là một trong những yếu tố quan trọng (không phải yếu tố quan trọng duy nhất) đối với các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tại Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, và sau này có thêm Cuba. Chính thực tế này đã xác định con đường đốt cháy giai đoạn để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội sau khi các quốc gia này giành được độc lập. Nói một cách khác, thảm bại nghiêm trọng của những quốc gia này khi bắt tay vào xây dựng CNXH trong thời bình là tất yếu (ở Việt Nam đã có lúc khẩu phần lương thực phải có cả hạt bo-bo!), vì sự thất bại này đã được lập trình và cài đặt sẵn ngay từ lúc còn kháng chiến.

Bản kết toán của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước Liên Xô - Đông Âu cũ cũng giữ nguyên vẹn tại 4 quốc gia này. Nguyên nhân cơ bản vẫn là sau khi giành được độc lập, con đường chuyên chính vô sản và công hữu tư liệu sản xuất không cho phép 4 quốc gia xã hội chủ nghĩa đi sau này  thành công trong những nhiệm vụ của phát triển và giải phóng con người. Cả 4 nước này buộc phải xé rào ý thức hệ mác xít – lê-nin-nít, để cải cách – (1)với nhãn hiệu là “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, (2)hoặc để đổi mới như ở Việt Nam – với cái tên gọi mới là “định hướng xã hội chủ nghĩa”, (3)hoặc là đã phải vứt bỏ tuốt luột chủ nghĩa Mác – Lênin để thế vào đó bằng “thuyết chủ thể” như ở Bắc Triều Tiên, (4)hoặc hiện nay đang phải quay về tìm kinh tế thị trường nhưng chưa muốn dân chủ cải cách chính trị như ở Cuba. Kết quả đạt được của quá trình cải cách ở cả 4 quốc gia này nhìn chung còn khá mờ nhạt tính xã hội và nhân văn, nhưng vẫn mang đặm ở các mức độ khác nhau mầu sắc của chủ nghĩa tư bản hoang dã (có người muốn gọi là chủ nghĩa tư bản dã man – nhất là ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên), nội dung thật của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa vẫn là chế độ độc quyền toàn trị, cái nhân dân lao động được quá nhỏ bé so với cái họ mất.

Riêng ở chỗ đứng hôm nay của nước ta sau 38 năm độc lập thống nhất, còn phải nói thêm: Sự tha hóa của đảng cầm quyền đang phạm phải làm cho cái giá phải trả cho độc lập thống nhất đất nước đắt quá. Ngoài sự ngột ngạt của chế độ độc quyền toàn trị, đất nước đang bị uy hiếp nghiêm trọng, lòng tin của nhân dân vào chế độ chính trị và vào vai trò của ĐCSVN chưa bao giờ khủng hoảng như hiện nay. 

 Bản kết toán hôm nay của chủ nghĩa Mác – Lênin trên thế giới phải chăng là:

Chủ nghĩa (hay học thuyết) Mác, được Lênin tổng hợp và bổ sung thêm (phần vai trò của chuyên chính vô sản và đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc) thành chủ nghĩa Mác – Lênin (CNMLN) để dẫn đường cho sự nghiệp giải phóng con người và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã không thành công ở bất kỳ quốc gia nào. CNMLN với tinh thần và nội dung như vậy đã cáo chung, kể cả Glasnos hay Perestroika thời cuối trào Liên Xô cũng không cứu vãn nổi.Chưa nói đến việc chính Lênin trong những năm cuối đời đã muốn sửa đổi lại nó (đang viết lại trong NEP[5]), nhưng Lênin không còn đủ thời gian làm việc này. Chưa nói đến (1)học thuyết Marx và những ý tưởng giải phóng con người của Marx – như những gì Marx (phần nào cùng với Engels) đã  xây dựng lên và (2)chủ nghĩa Mác – Lênin về “chủ nghĩa xã hội khoa học” là hai câu chuyện khác nhau, không ít điều mâu thuẫn nhau, không ít học giả trên thế giới đã chứng minh điều này.

Trên thế giới ngày nay không còn tồn tại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nữa. Trào lưu xã hội dân chủ trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ngày càng lớn mạnh cho đến khi các nước XHCN LXĐÂ sụp đổ, nhưng kể từ đó cũng đang ngày càng mờ nhạt đi rất nhanh, và bây giờ đang ngày càng hòa nhập vào các trào lưu khác trong một thế giới đã hoàn toàn thay đổi. Đơn giản: Một thế giới thay đổi đang đặt ra những vấn đề thời sự hoàn toàn khác, tạo ra những người tham gia cuộc chơi khác. 

Chủ nghĩa Mác – Lênin và  cái gọi là ý thức hệ cách mạng của Việt Nam 

          Mặc dù CNMLN và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã cáo chung như vừa trình bầy trên, nhưng hiện nay, trong nhiều văn kiện chính thống của ĐCSVN, nhất là trong các phát ngôn của nhiều người lãnh đạo, trong các bài viết của một số chính khách, học giả của ĐCSVN đang tham gia hàng ngũ dư luận viên, trong những giải trình của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tại Quốc hội (giải trình bản Dự thảo 5, ngày 17-05-2013), trong toàn bộ hoạt động của hệ thống báo chí “lề phải”.., chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang được tìm mọi cách để áp đặt vào dân, để được đưa vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Làm như thế nhằm mục đích gì?

          Trước hết cần xem xét CNMLN được nói tới trên diễn đàn lề phải là chủ nghĩa nào? Đó là CNMLN gốc, do Lênin tổng hợp lại? Hay là thứ đã được Stalin xô-viết hóa, rồi tiếp đến là thứ đã được “mao-ít” hóa, rồi vào đến nước ta lại được “Việt Nam hóa” tiếp cho hợp khẩu vị chuyên chính và trình độ phát triển ở nước ta? Tiếp đến nữa còn phải hỏi: CNMLN đang được nói đến trên mọi diễn đàn của dư luận viên hiện nay còn đọng lại hay được thêm thắt mới đến mức nào so với chính những giáo trình của các trường và các cơ quan nghiên cứu lý luận của ĐCSVN?

Nếu đọc lại các bài nói, bài viết rất khiên cưỡng một chiều đả kích, không cần lý lẽ giải thích, của các dư luận viên trên các diễn đàn “lề phải”, thậm chí còn phải nghi ngờ: Không biết các tác giả của những bài viết hay bài nói này đã đọc hay đã được học với đúng nghĩa chủ nghĩa Mác – Lênin hay chưa? Hay là chỉ học, chỉ biết lơ mơ về nó, được dậy tốt dậy xấu như thế nào, hay là được yêu cầu phải nói như thế nào, thì phát thanh lại như thế?! Một trong những cao điểm trí tuệ của các bải này làm nên sự nghi ngờ ở đây chính là sự hù dọa về nguy cơ “mất sổ hưu”!

Trong khi đó, như đã trình bầy ở các phần trên, sự thất bại của  CNMLN trong việc xây dựng CNXH trên toàn thế giới – kể cả ở Việt Nam – không còn là chuyện phải bàn cãi.

Hơn thế nữa, cứ lấy những điều cao đẹp hiện đang được nói về CNMLN nhân dịp sửa đổi Hiến pháp, đối chiếu với những gì đang xảy ra trong cuộc sống hàng ngày – như một chiều đả kích những ý kiến xây dựng trong việc sửa đổi Hiến pháp, nhất quyết bóp chết hay không cho phép mở ra các diễn đàn để nhân dân trao đổi ý kiến của mình về sửa đổi Hiến pháp, liên tiếp các bản án rất nặng trấn áp những người yêu nước bất đồng chính kiến với chế độ và những người chống Trung Quốc xâm phạm bờ cõi đất nước, sự đàn áp thô bạo những người đi biểu tình bầy tỏ thái độ bảo vệ biển đảo của Tổ quốc, nhìn vào tệ nạn tham nhũng và biết bao nhiêu bất công xã hội đang xảy ra hàng ngày trên đất nước, nhìn vào sự sa đọa của hệ thống chính trị cai quản đất nước, nhìn vào sự xuống cấp và tha hóa ngày càng trầm trọng của đời sống văn hóa - xã hội của đất nước..,  không thể không đặt ra câu hỏi: CNMLN đang được áp đặt ở đây thực chất có nội dung gì và nhằm mục đích gì?

Cũng phải đặt ra câu hỏi tư tưởng Hồ Chí Minh được nói đến trên các diễn đàn của dư luận viên là tư tưởng nào?

Tinh hoa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Tuyên ngôn Độc lập 02-09-1945, là Hiến pháp 1946, là tư tưởng Không có gì quý hơn độc lập tự do!, là đạo đức Cần kiệm liêm chính – chí công vô tư.., là Dân chủ có nghĩa là để cho nhân dân mở mồm ra nói!...

Xin hỏi có bất kỳ điều gì trong tinh hoa này của tư tưởng Hồ Chí Minh được tôn trọng, được vận dụng vào việc sửa đổi Hiến pháp lần này không?

Thậm chí hệ thống nhà nước cần được phân công nhiệm vụ, phân quyền kiểm soát lẫn nhau (tạm gọi là vấn đề “tam quyền phân lập” – như được thiết kế trong Hiến pháp 1946), nhưng được chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đích thân bác bỏ, với lập luận dứt khoát: Quyền lực nhà nước là thống nhất dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của ĐCSVN…

Bác bỏ cách làm phô trương hình thức theo kiểu “26 triệu lượt ý kiến & 28 nghìn hội thảo…” để áp đặt, nhiều người đã hỏi thẳng lãnh đạo ĐCSVN: Sửa đổi Hiến pháp theo như cách đang làm thì sửa đổi làm gì? Chỉ thêm tốn tiền thuế của dân, công sức và thời gian của cả nước! Bản tuyên bố của nhóm 72 bác bỏ bản dự thảo 5 (ngày 17-05-2013) Dự thảo sửa đổi Hiến pháp nhận định: bản Dự thảo 5 thụt lùi so với Hiến pháp 1992 đang hiện hành.

Theo hay không theo ý thức hệ nào, tư tưởng nào, là quyền tự do của mỗi người. Nhưng áp đặt một ý thức hệ đã phá sản trên toàn thế giới, kể cả ở Việt Nam - cụ thể ở đây là CNMLN – vào Hiến pháp nước ta nhân dịp sửa đổi lần này nhằm mục đích gì?

Câu trả lời chỉ có thể là: Đây là sự áp đặt một công cụ chuyên chính tư tưởng và tinh thần, với mục đích phục vụ cho chuyên chính bạo lực, nhằm (a)bảo vệ chế độ độc quyền toàn trị nhân danh sự lãnh đạo của ĐCSVN, và (b)biện minh cho vị thế tối thượng bất khả xâm phạm của ĐCSVN để ghi vào Điều 4 của dự thảo Hiến pháp sửa đổi (bản dự thảo ngày 17-05-2013). Có lẽ vì hai lý do chủ yếu này, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã giải trình trước Quốc hội: Trước mắt không đặt ra vấn đề Luật về đảng trong sửa đổi Hiến pháp lần này. Giải trình như thế, khác gì tự xác nhận ĐCSVN đứng ngoài và đứng trên pháp luật, giữa lúc ĐCSVN kêu gọi cả nước sống và làm theo pháp luật!

Tuyên bố của nhóm 72 về bản dự thảo 17-05-2013 phân tích rõ:
-    Sự áp đặt này nhằm tiếp tục hiến định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, cho thấy ĐCSVN quyết đứng trên và đứng ngoài Hiến pháp;
-    Sự áp đặt này hàng chục năm nay đã và đang trực tiếp hủy hoại vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, là nguy cơ xóa bỏ toàn bộ sự nghiệp lịch sử của ĐCSVN từ bên trong, triển vọng với nhiều hệ quả đẫm máu cho đất nước  – không một thế lực thù địch nào có thể làm nổi việc này;
-    Chế độ độc quyền toàn trị dưới hình thức “đảng hóa” mọi mặt đời sống đất nước ta là nguyên nhân gốc đẩy đất nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện hiện nay, với nhiều nguy cơ và thách thức mới rất nguy hiểm.

Tóm lại: Dùng một chủ nghĩa đã phá sản như một công cụ chuyên chính làm ngọn cờ khua trương cho một sứ mệnh chính trị không được phép tồn tại trong một nhà nước của dân – do dân – vì dân, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân có nghĩa trong thực tế là sự phủ nhận trực tiếp nhà nước này, là để tiếp tục duy trì chế độ độc quyền toàn trị nhân danh kiên trì con đường định hướng xã hội chủ nghĩa,  nhân danh sự lãnh đạo của ĐCSVN. Kịch bản đen tối này không thể là sự lựa chọn của nhân dân ta, cũng không mở ra cho ĐCSVN con đường tồn tại. Cưỡng bức nhân dân đi theo kịch bản đen tối này, hệ quả cuối cùng sớm muộn sẽ chẳng khác mấy là sự tự sát của chính người cưỡng bức.

Sửa đổi Hiến pháp lần này đang tạo ra một cơ hội khó mà có lại, để ĐCSVN tự tay trực tiếp xóa bỏ kịch bản đen tối này cho chính mình mà những tha hóa tự thân đang cuốn hút mình vào. Không ai có thể làm thay ĐCSVN việc này.

Với gần 4 triệu đảng viên, lại trực tiếp nắm mọi quyền lực trong tay, ĐCSVN là lực lượng chính trị mạnh nhất trong xã hội Việt Nam, chiếm tới khoảng gần 4 triệu gia đình, có ảnh hưởng trực tiếp / gián tiếp tới 1/3 hay hơn nữa dân số cả nước, chưa nói đến nhiều ảnh hưởng to lớn khác nữa. Vì thế, tối ưu cho ĐCSVN và cũng là cho đất nước, là xóa bỏ kịch bản đen tối nêu trên. Con đường Myanmar đang gợi ý ra cho ĐCSVN một hướng đi hiện thực: Tất cả cùng sống, tất cả cùng nhau khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ (bao hàm cả nghĩa không hồi tố), để cùng nhau theo tinh thần đoàn kết – hòa giải dân tộc mở ra một chương sử mới cho chính mình và cho đất nước, để từ nay mỗi người và cả đất nước trở thành chính mình: Xây dựng một đất nước tự do của những con người tự do. Đấy cũng là nguyện vọng cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam ngày nay: Xây dựng một Việt Nam độc lập – tự do – hạnh phúc, để có được một Việt Nam đáng sống, không ai có thể ức hiếp, và cùng đi được với cả thế giới! Tìm đường cho nhân dân thực hiện khát vọng này, đấy mới chính là vai trò lãnh đạo mà ĐCSVN bây giờ phải lột xác phấn đấu để đạt tới. Đấy chính là con đường cứu đảng cứu nước mỗi đảng viên ĐCSVN bây giờ nhất thiết phải giác ngộ, chứ không phải cam tâm làm nô lệ của CNMLN đã bị cuộc sống loại bỏ - chỉ để phục vụ cho mục đích duy tri chế độ độc quyền toàn trị của một số người trong đảng đang giam hãm đất nước.

Trung thành với lịch sử chiến đấu vì nước vì dân của ĐCSVN, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh, đảng viên ĐCSVN bây giờ nhất thiết và trước hết phải chiến thắng chính mình, để chiến thắng sự sa đọa đang dìm đảng của mình vào tội lỗi, để đặt lại đảng của mình vào con đường đấu tranh vì nước vì dân đã từng làm nên sự nghiệp của đảng, nhất là để không phản bội lại những hy sinh, những mất mát của dân tộc, của đồng chí và đồng đội trên chặng đường gần một thế kỷ qua!

Các đảng viên ĐCSVN hãy bắt đầu từ việc thảo luận thẳng thắn trong đảng về thực trạng của ĐCSVN và của đất nước, về những vấn đề đang đặt ra cho việc sửa đổi Hiến pháp. Hãy bắt đầu từ việc đòi trả tự do cho tất cả những người yêu nức bất đồng chính kiến với chế độ đang bị cầm tù. Hãy phản đối đàn áp biểu tình bảo vệ tổ quốc. Hãy xóa bỏ phân biệt đối xử lề trái hay lề phải trong báo chí, để cho trong báo chí chỉ có lẽ phải, lòng yêu nước, ý chí bảo vệ tổ quốc!

Các đảng viên của ĐCSVN dù ở cương vị nào, nếu còn giữ đất nước trong tim mình, nhất thiết phải đứng lên như thế để cứu đảng của mình, và như thế cũng là cứu nước. Các đảng viên ĐCSVN đừng để cho đảng của mình rơi vào tình trạng mà một chính khách ở Liên Xô hồi đó đã phải thốt lên: ĐCS Liên Xô không thể cải tạo được nữa! Chỉ còn cách đập tan nó!

Đối nghịch lại, nếu các đảng viên ĐCSVN không phấn đấu lựa chọn con đường cứu đảng cứu nước, sẽ chỉ còn lại con đường của kịch bản đen tối, của tha hóa và tội lỗi. Đó là con đường cố tính đối kháng lại nhân dân, sớm muộn sẽ dẫn tới thảm họa nồi da xáo thịt cho đất nước, kết cục chắc chắn với sự phủ nhận dứt khoát của nhân dân cả nước dành cho ĐCSVN, với một màn chót không phải là không hình dung được. 

Người dịch tạm kết luận

          Thành, bại và cuối cùng là sự cáo chung của trào lưu cách mạng của chuyên chính vô sản trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế sau 150 năm tồn tại; gắn liền với chặng đường lịch sử này là sự cáo chung của chủ nghĩa Mác – Lênin với tính cách là cẩm nang cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; thành, bại và những thành tựu lâu bền của trào lưu xã hội dân chủ trên chặng đường 150 năm đồng hành này; thành và bại của chính thực tiễn 38 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta – bây giờ lùi xuống là định hướng xã hội chủ nghĩa, tất cả những thứ này có lẽ là đủ để cho chúng ta thấy:Thường xuyên mở rộng các quyền tự do, dân chủ rất cụ thể của mỗi công dân trong mỗi bước đi của đất nước, thường xuyên làm tất cả mọi việc để mỗi công dân luôn luôn tự nâng cao được quyền năng của mình từ hiểu biết và học hỏi, đấy mới là động lực sáng tạo, năng động và lâu bền cho sự phát triển của đất nước ta.

          Tận dụng cơ hội việc sửa đổi Hiến pháp đang mang lại, sẽ mở ra cho đất nước ta một con đường đi lên của tự do và dân chủ.

Đọc kỹ diễn văn 150 năm ĐXHDCĐ (SPD) của Tổng thống Joachim Gauck, tôi thấy thêm một bằng chứng sống động của nước Đức cho những điều trình bầy trên. Tôi tin như vậy, tôi cũng mong nhân dân nước ta vận dụng được lợi thế của nước đi sau./.

Võng Thị - Hà Nội, ngày 10-06-2013
Nguyễn Trung

 

[1] “Vorwaerts!” (“Tiến lên!”) là khẩu hiệu đấu tranh của Đảng Xã hội Dân Chủ Đức, lấy từ cuộc đấu tranh của phong trào công nhân Đức cuối thế kỷ XIX. ND.
[2] Đạo luật trao những quyền hành đặc biệt cho chính quyền Hitler, qua đó phát xít hóa nước Đức, mở đường cho chiến tranh thế giới II. - ND chú giải.
[3] Đạo Luật Cơ Bản năm 1949 là Hiến pháp của Cộng Hòa Liên Bang Đức.  Chú ý, vì là nước phát xít bại trận trong chiến tranh thế giới II, nên cả 2 miền Tây và Đông nước Đức tuy đã có 2 nhà nước có chủ quyền, nhưng cả 2 nhà nước này vẫn chịu những ràng buộc nhất định trong khuôn khổ Hiệp ước Postdam và một số quyền kiểm soát của 4 bên đồng minh là Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp.  ND chú thích.
[4] “Ai thắng ai?” – giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc.
[5] NEP – Neww Economic Policy.

Nguyễn Trung gửi cho viet-studies ngày 11-6-13

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Nishimura Masanari nhà khảo cổ Nhật tử nạn

Nhà khảo cổ Nhật tử nạn ở Việt Nam

Thứ hai, 10/6/2013, 11:14 GMT+7

Tiến sĩ Nishimura Masanari, nhà khảo cổ người Nhật gắn bó hơn 20 năm với Việt Nam, hôm qua thiệt mạng vì tai nạn giao thông ở Hà Nội.

Ảnh: Thanhtra.
Tiến sĩ Masanari. Ảnh: Báo Thanh tra.
Tiến sĩ Masanari qua đời sau một tai nạn giao thông trên đường 5, khi đi xe máy để khảo sát cuộc khai quật mới. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ở Hà Nội và Viện Khảo cổ học Việt Nam đang phối hợp, hỗ trợ gia đình của nhà khoa học để chuẩn bị công việc hậu sự cho ông.
Tiến sĩ Masanari sẽ được hỏa táng tại đài hóa thân Hoàn Vũ. Sau đó, tro cốt của ông sẽ được gia đình mang về Nhật.
Ông Masanari sinh năm 1965, tại thành phố Shimonoseki, Nhật Bản. Ông có tên tiếng việt là Lý Văn Sỹ và nói tiếng Việt rất tốt. Ông bắt đầu đến Việt Nam năm 1990, trong chương trình hợp tác giữa Nhật Bản và Việt Nam để khai quật một số mộ cổ ở Nghĩa Đàn, Nghệ An.
Hơn 20 năm qua, ông có nhiều công trình nghiên cứu khảo cổ có giá trị ở Việt Nam. Ông là người phát hiện mảnh khuôn đúc trống đồng duy nhất từ trước đến nay, có niên đại khoảng thế kỷ 1-3 sau Công nguyên. Điều này cho thấy, trống đồng được đúc ra từ chính Việt Nam, chứ không phải từ nơi khác mang đến.
Ông còn là người có công đóng góp cho việc xây dựng Bảo tàng gốm Kim Lan và Dương Xá, tại Bắc Ninh. Không những vậy, ông cùng đồng nghiệp Việt Nam đã phát hiện các khuôn đúc mũi tên tại Luy Lâu. Điều này chứng tỏ mũi tên có niên đại thời kỳ An Dương Vương được sản xuất tại chỗ.
"Sự ra đi của ông Nishimura Masanari khiến cả ngành khảo cổ Việt Nam sững sờ", phó giáo sư Nguyễn Lân Cường, phó tổng thư ký Hội khảo cổ học Việt Nam nói.
Là người có nhiều lần nghiên cứu với tiến sĩ Nishimura Masanari, ông Cường cho biết: "Nishimura Masanari là người trung thực, luôn giúp đỡ bạn bè. Ông là một trong những nhà khảo cổ có những nghiên cứu sâu nhất trong lĩnh vực này ở Việt Nam".
Đây không phải là lần đầu tiên một nhà khoa học nước ngoài gặp phải tai nạn giao thông ở Việt Nam. Chiều 7/12/2006, giáo sư người Mỹ Seymour Papert bị một xe máy xô phải trong khi cùng đồng nghiệp băng qua nút giao thông Đại Cồ Việt để sang trường đại học Bách Khoa Hà Nội. Nhà toán học nổi tiếng bị chấn thương sọ não, sau đó được đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Việt - Pháp trong tình trạng nguy kịch để mổ lấy máu tụ. Vài ngày sau, ông đã được gia đình đưa về Mỹ trên một chuyến máy bay cứu thương đặc biệt.
Tuần qua, nhiều vụ tai nạn giao thông đã xảy ra gây thương vong lớn. Ngày 7/6, chiếc xe khách chở hơn 30 giáo viên, người thân và học sinh Tiểu học số 2 Hòa Phước, Đà Nẵng đi nghỉ mát đã mất phanh, đâm vào vách núi ở đèo Hòn Giao - Khánh Lê, Khánh Hòa. Tài xế và 6 người tử vong, hơn 20 người khác bị thương.
Hôm qua, ba người đã thiệt mạng và hàng chục người bị thương sau khi một xe khách của công ty Mai Linh gặp tai nạn từ thành phố Buôn Mê Thuột về Đà Nẵng, lao xuống vực ở địa bàn thuộc tỉnh Quảng Nam.
Theo tổng hợp của Cục Cảnh sát giao thông cho hay, tuần đầu tiên của tháng 6, 339 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên cả nước, làm 151 người chết, 232 người bị thương. Số vụ tai nạn và số người bị thương tăng hơn so với cuối tháng trước.
Hương Thu

http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2013/06/nguoi-viet-tiec-thuong-nha-khao-co-nhat-ban/

Người Việt tiếc thương nhà khảo cổ Nhật Bản

Trên các diễn đàn và mạng xã hội, nhiều người bày tỏ lòng thương tiếc tiến sĩ Nishimura Masanari, người có công lớn với ngành khảo cổ Việt Nam và vừa tử nạn hôm qua.
Nhà khảo cổ Nhật tử nạn giao thông ở Việt Nam

Sự ra đi của tiến sĩ người Nhật Bản Masanari, người có 20 năm gắn bó với nền khảo cổ Việt Nam. khiến nhiều người cảm thấy xót xa nuối tiếc. Những lời tri ân và thương tiếc xuất hiện trên khắp các diễn đàn, mạng xã hội, với những lời chia sẻ của mọi người Việt Nam, nhất là những người từng được gặp và làm việc cùng ông.
Nickname minhtamphamdht viết: "Vĩnh biệt anh, người bạn lớn của gia đình chúng tôi, kỷ niệm và sự ân tình của gia đình anh với chúng tôi sẽ không bao giờ quên. Xin chia buồn cùng chị Noriko và các cháu về nỗi đau này".
Trên trang xuandienhannom.blogspot.com, Ngô Hoài Chung, người từng cộng tác với Masanari nhớ như in những lần gặp tiến sĩ người Nhật. "Tôi từng gặp tiến sĩ trong quá trình tổ chức khai quật tại làng cổ Đông Sơn, Thanh Hoá năm 2008".
Sau đó, năm 2009, anh cùng tiến sĩ Nguyễn Giang Hải đi công tác tại Nhật Bản, và anh đã đến thăm tiến sĩ Masanari tại nhà riêng. "Ông và vợ ông là tiến sĩ Noriko cùng hai con trai đã có nhiều năm gắn bó với Việt Nam. Ông luôn coi Việt nam như là quê hương thứ hai".
"Trong tâm trí tôi, ông là người có một tâm hồn bình dị và luôn luôn yêu đời. Mỗi khi vui vẻ ông cười rất to, rất vô tư. Ông rất giỏi tiếng Việt và yêu văn hoá Việt, ông thích và sành ẩm thực Việt như một người Việt Nam chính hiệu".
"Tôi thực sự bị sốc khi ông mất đột ngột ở độ tuổi này. Theo tôi, ông ra đi không chỉ là sự đau đớn cho gia đình ông, cho bạn bè ông mà còn là tổn thất cho ngành khảo cổ Việt Nam", Ngô Hoài Chung viết.
Một người khác kể: "Tôi từng có 5 buổi trình bày với ông về văn hóa Việt Nam, lúc đó tóc ông chưa bạc như bây giờ. Trẻ trung, ăn mặc rất ngầu (kiểu phóng viên chiến trường), đi con xe máy Nga rất hầm hố và lượn khắp nơi để làm khoa học".
"Ông từng là đồng nghiệp của bố tôi", một thành viên diễn đàn trên kể. "Masanari khóc rất nhiều trong đám tang bố tôi - cũng mất vì tai nan giao thông trên đường đi khảo cổ ở Nam Định năm 2000. Giờ đây tôi lại khóc vì sự ra đi của ông. Thương tiếc vĩnh biệt tiến sĩ!".
Không chỉ là người từng gặp và làm việc với tiến sĩ Masanari, trên các diễn đàn có hàng trăm comment tỏ lòng kính trọng với nhà khoa học người Nhật.
"Là dân thường, song tôi vô cùng kính trọng người con của Nhật Bản, một dân tộc mà chúng tôi luôn học tập. Xin chia buồn cùng gia đình ông và đất nước. Tôi mong sao con người và đất nước tôi học được điều gì đó ở ông và con người ông", thành viên của xuandienhannom viết.
Đồng cảm xúc, Muathuhanoi xin thành tâm gửi đến gia đình tiến sĩ Masanari lời chia buồn sâu sắc, lòng tiếc thương vô hạn và lời tri ân chân thành nhất về những tình cảm quý báu, những đóng góp to lớn của tiến sĩ Nishimura Masanari dành cho Việt Nam.
"Xin được cảm ơn gia đình yêu quý của ông về những tình cảm đặc biệt dành cho Việt Nam. Sự ra đi của ông là nỗi đau của tất cả chúng ta", Muathuhanoi viết.
Một thành viên khác viết: "Thật đau buồn và đáng tiếc. Ông mới 48 tuổi, độ tuổi hoạt động khoa học sung mãn nhất. Người Việt Nam nói chung và ngành khảo cổ học nói riêng hãy đừng để cái chết của ông thành vô nghĩa. Chúng ta hẳn phải rút ra được điều gì đó từ tai nạn cũng như tấm gương hoạt động khoa học của ông".
Độc giả VnExpress chia buồn với gia đình tiến sĩ
Độc giả VnExpress chia buồn với gia đình tiến sĩ Nishimura Masanari.
Nhiều độc giả khác của VnExpress cũng gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình tiến sĩ Nishimura Masanari. "Đất nước Việt Nam và con người Việt Nam luôn biết ơn ông và mang một món nợ với ông", độc giả lấy tên là namkaokts chia sẻ.
Độc giả Nguyễn Thị xin được chia buồn đến gia đình anh Nishimura. "Người dân Bắc Ninh biết ơn anh nhiều lắm. Sự nghiệp khoa học anh dành cho quê hương Bắc Ninh là rất lớn. Vô cùng thương tiếc anh".
Nickname khác là drthanhnguyentienn cho rằng, sự ra đi của nhà khảo cổ Nhật Bản đồng nghĩa với việc Việt Nam mất đi một người bạn lớn, một người đầy tài năng. "Không biết trách ai nữa, vì quá nhiều người để trách", độc giả này viết.
"Cảm ơn đóng góp của vợ chồng cô chú với nền khảo cổ học Việt Nam. Cảm ơn những gì ông đã làm cho Việt Nam", độc giả Viet viết.
"Xin trân trọng cảm ơn những công lao và tình cảm của tiến sĩ dành cho quê hương tôi. Cầu chúc ông ra đi thanh thản và sớm siêu thoát. Tai nạn giao thông Việt Nam, bao giờ giảm đây?"", Hoa Lê viết.
Độc giả phqthanh viết: "Nishimura Masanari, bạn sống với chúng tôi, bạn ra đi mãi mãi vì chúng tôi . Xin gửi lời xin lỗi và chia buồn của chúng tôi đến gia đình".
"Vô cùng tiếc thương Tiến sỹ Masanari, một nhà khoa học Nhật Bản có tấm lòng yêu Việt Nam. Xin gửi lời chia buồn tới gia đình ông và cầu chúc linh hồn ông được bình yên nơi . Mong sao đất nước, con người Việt Nam phát triển", độc giả Phạm Khiêm viết.
Thông tin về sự ra đi của nhà khoa học người Nhật cũng nhận được sự chia sẻ từ cộng đồng Facebook. "Mong bác an nghỉ và siêu thoát, mình có cảm giác đây là người đã đi cùng mình trên một chuyến xe về quê cách đây không lâu. Lúc đó, em trai mình còn nhỏ bị say nên một bác người Nhật đã gọi mình lại cho khăn ướt, bác ấy cũng nói tiếng Việt rất giỏi và có vẻ rất giống người tôi nhìn trong ảnh", theo nickname Tôm Chí Đông.
Ngoài sự thương tiếc, các thành viên mạng còn kêu gọi cộng đồng làm gì đó để giảm bớt tai nạn giao thông, lái xe có ý thức hơn để không vô tình thành kẻ giết người.
Máy ngày nay chứng kiến nhiều vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng liên tiếp trên các quốc lộ làm nhiều người, trong đó có trẻ em, thiệt mạng. Theo tổng hợp của Cục Cảnh sát giao thông, tuần đầu tiên của tháng 6, có 339 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên cả nước, làm 151 người chết, 232 người bị thương.
Hương Thu

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Dịch giả Mai Sơn bàn về sách Triết học


Nhíu mày bên sách triết

Thứ Ba, 21/05/2013 16:10 |

(Thethaovanhoa.vn) - Trên thế giới đang có hiện tượng con gái nhà giàu xinh đẹp đua nhau học triết, học nghệ thuật. Nhìn các cô ngồi trên băng ghế đá trầm tư, có lúc nhăn trán nhíu mày, thấy đẹp mê hồn. Không như các cô gái Việt, trăm cô chụp hình thì gần trăm cô đưa hai ngón tay làm hình chữ V lên, ngoài ra chẳng biết “triết lý” gì với người nhìn mình- nhà văn, dịch giả Mai Sơn nhận xét.

Tiếp theo bài viết về xu hướng “Ipad hoá” triết học trong những cuốn sách triết phổ thông trên số trước, TT&VH Cuối tuần có cuộc trò chuyện với nhà văn, dịch giả Mai Sơn (*) về xu hướng đọc sách triết hiện nay.
Nhà văn, dịch giả Mai Sơn
* Việt Nam từng có những tác phẩm triết học nào làm chấn động hay thay đổi ý thức hệ một thời không, thưa anh?
- Ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ 20, các tác phẩm triết học của Jean-Jacques Rousseau và Montesquieu đã góp phần quan trọng mở ra một phong trào đòi dân quyền, khai dân trí rộng khắp cả nước, nhất là ở miền Trung. Phan Châu Trinh, người chủ xướng cuộc vận động văn hóa - chính trị vĩ đại này đã mừng rơi nước mắt và kêu lên khi lần đầu tiên trông thấy cuốn Du Contrat Social của J.J. Rousseau: "Dân ước luận của Lư Thoa đây rồi!”. 
Sau này các tác phẩm của Karl Marx và Lenin ở miền Bắc những năm 1950, các tác phẩm của Nietzsche, Heidegger, Sartre ở miền Nam những năm 1960, đầu những năm 1970 đã làm thay đổi số phận của một dân tộc như thế nào thì nhiều người đã biết. Trong khi “não trạng” của những người theo Marx là hướng đến hành động cách mạng dựa trên triết lý chủ yếu của ông: “Lâu nay các triết gia đã giải thích thế giới bằng nhiều cách rồi; vấn đề là cải tạo nó”, thì đầu óc giới trẻ miền Nam thời bấy giờ là ý thức khốn khổ của những cá nhân thấy mình cô đơn trong một thế giới phi lý.
* Vậy thì địa vị của các sách triết học thường được xếp hay đánh giá như thế nào với thế giới sách nói chung? 
- Đánh giá hay so sánh sách triết học với các loại sách khác là điều rất khó. Nhìn chung mọi người hay đối xử với chúng theo cách “kính nhi viễn chi”, tuyệt không phải là sách giải trí. Dù rằng rất nhiều tư tưởng triết học gần gũi với số phận con người, số đông độc giả vẫn không mấy tin tưởng vào các triết gia vì họ cảm thấy đó là những khung xương không có máu thịt. Nhưng với những người có mối quan tâm đến triết học, thì “sự di chuyển nhẹ nhàng của tư tưởng từ nguyên nhân này đến hệ quả kia” đã mang đến những giây phút bừng sáng của trí tuệ.
* Hẹp hơn nữa, triết đã tác động như thế nào vào ngôn ngữ tiếng Việt?
- Giàu có lên! Thế nào rồi ngôn ngữ triết cũng sẽ được tận dụng không chỉ trong phạm vi học thuật, khi mà triết học đang thâm nhập và biến hóa muôn hình vạn trạng vào đời sống. Nhiều người e ngại, thấy chúng nặng nề hơi hướng Tàu, nhưng đó là cái khó của khái niệm chứ không phải của từ ngữ. Qua các bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn, chúng ta thấy tiếng Việt có thể chuyển tải tài tình lối nói huyền ảo mà khúc chiết của Kant và Hegel như thế nào. Trước đây Phạm Công Thiện cũng nói rằng tiếng Việt mình đủ tiềm năng trình bày mọi loại triết học Tây phương.
Cuốn 101 triết gia (NXB Tri thức & Phương Nam Book, 2007, 840 trang) là một nhập môn dạng từ điển, khá dễ đọc, do Mai Sơn biên soạn
* Tại sao gần đây thế giới có xu hướng “đời thường” hóa triết học? 
- Tôi không biết xu hướng đó cụ thể thế nào, nhưng “đời thường hóa” triết học là chuyện xưa nay nhân loại vẫn làm. Lý do là, khi triết học đưa ra những chân lý, nó mặc định rằng hễ là con người có trí tuệ thì phải hiểu, nhưng chỉ vì lý do kỹ thuật, ngôn từ và cách trình bày mà đa số dân chúng chưa thấu đáo, nên triết học phải tìm cách đi những đường vòng, đôi khi rất lâu, rất xa, nhưng cuối cùng rồi sẽ tới. Hegel từng nói đại ý, tất cả những gì khó khăn nhất, công phu nhất về văn hóa và tư tưởng từ từ sẽ trở thành dễ dàng cho số đông, thậm chí như là trò chơi, với các thế hệ đến sau, nếu không như thế, thì lịch sử sẽ lặp lại và không có tiến bộ. 
“Người Việt Nam thường hay “triết lý” trong mọi hoàn cảnh. Nếu họ chịu khó đọc thêm sách triết để củng cố lý lẽ của mình, chắc rằng họ sẽ thông minh hơn, và biết cách ứng xử hơn”.
Nếu như hiện nay đang có xu hướng “đời thường hóa” triết học mạnh mẽ, thì chắc là do nhân loại đang hạnh phúc, đang yên ổn và có nhiều thời gian suy nghĩ về những câu hỏi lớn như chiến tranh hủy diệt toàn cầu, thảm họa môi trường lẫn những vấn đề thiết thân hàng ngày của họ. Và nhìn chung, những tư tưởng hòa bình, khoan dung, đối thoại đang phổ biến hơn trong những ngày này. Điều đó cũng dễ hiểu, vì triết học vốn chỉ xuất hiện trong sự nhàn rỗi, chứ không xuất hiện trong tình trạng khẩn bách. Khi khẩn bách, nhân loại sẽ xuất hiện với những phương cách khác, bộ dạng khác, rất khó nhìn, chứ không phải với khuôn mặt trầm tư như chúng ta thấy hiện nay.
* Trong xã hội tiêu dùng toàn cầu, tâm thế của người đọc Việt Nam có nên thay đổi ý niệm và quan niệm về việc tiếp nhận sách triết không?
- Người Việt Nam thường hay “triết lý” trong mọi hoàn cảnh. Nếu họ chịu khó đọc thêm sách triết để củng cố lý lẽ của mình, chắc rằng họ sẽ thông minh hơn, và biết cách ứng xử hơn. Và để hội nhập với thế giới, ngay cả trên phương diện mua bán, làm ăn, chúng ta cũng cần phải học cách ăn nói và lắng nghe ở một mức độ nào đó đủ để đối tác thấy ta không phải là kẻ vật dục tầm thường.
Hiện nay trên thế giới có hiện tượng những cô gái nhà giàu xinh đẹp đua nhau học triết, học nghệ thuật. Họ không còn thiếu gì về vật chất nữa, mà cảm thấy mình còn nghèo nàn tinh thần, chưa có cái đẹp bên trong tâm hồn. Nhìn các cô ngồi trên băng ghế đá trầm tư, có lúc nhăn trán nhíu mày, thấy vẫn đẹp mê hồn; có lẽ vì cái đẹp bên ngoài và bên trong họ đang hòa quyện, có người đã hòa quyện đến độ chín muồi; chứ không như các cô gái Việt đẹp của ta, một trăm cô chụp hình thì gần một trăm cô đưa hai ngón tay làm hình chữ V lên, ngoài ra chẳng biết “triết lý” gì với người nhìn mình. 
* Anh có cho rằng nên có vài việc cần làm ngay?
- Nếu có, thì trong khi tiếp tục “đánh thức (giới trí thức) ra khỏi giấc ngủ giáo điều” bằng việc giới thiệu những công trình tư tưởng kỳ vĩ của nhân loại, thì cũng đừng quên rằng, vì nhiều lý do, đất nước ta như một miền đất mới khai hoang, không chắc các hạt giống triết học sẽ mọc lên mạnh khỏe. Do vậy, phải liên tục nhen nhóm và gìn giữ ngọn lửa đam mê triết học, yêu thích suy tư trong công chúng, đặc biệt là giới trẻ, bằng những loại sách triết học nhập môn. 
* Trân trọng cảm ơn anh!
Mai Sơn (sinh năm 1956) hiện là Trưởng ban tu thư của ĐH Hoa Sen; đã xuất bản 4 tập truyện ngắn; đã biên soạn và biên dịch gần 10 đầu sách triết, văn học, lý thuyết... Anh biên soạn 101 triết gia và dịch Câu chuyện triết học (chung với Huỳnh Phan Anh), Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại (chung với Phạm Viêm Phương), Vũ trụ trong một nguyên tử, Nhập môn Lacan, Triết học lục địa…
Đón xem tiếp bài sau: Những cuốn sách triết nên đọc trước khi... chết
VĂN BẢY (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

Bàn về Văn Hóa Trung Quốc


Tia Sang - 11:27-14/05/2013 
Vì sao Trung Quốc làm nên kỳ tích kinh tế nhưng lại chưa trỗi dậy về văn hóa?

Trịnh Vĩnh Niên *

Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nhưng Trung Quốc đã có sự trỗi dậy về văn hóa chưa? Rõ ràng là chưa bởi dù đời sống kinh tế giàu lên, nhưng Trung Quốc vừa chưa giành được sự tôn trọng của cộng đồng quốc tế, vừa chưa làm cho dân chúng trong nước được sống hạnh phúc hơn.

Trung Quốc cũng ý thức được điều đó, vì vậy họ cũng cố gắng giới thiệu nền văn hóa nước mình ra nước ngoài. Nhưng vì không có những tư tưởng mới và giá trị mới, Trung Quốc đành phải nhờ tới Khổng Tử. Họ lập các Học viện Khổng Tử. Nhưng các Học viện ấy lại bị đơn giản hóa thành nơi học ngôn ngữ, chữ viết của Trung Quốc. Bất kể người lập Học viện Khổng Tử hay người làm công tác truyền bá văn hóa khác, họ đều không biết mình cần phải truyền bá thứ văn hóa và giá trị như thế nào.

Theo quan điểm của ông Vương Canh Vũ **, sự trỗi dậy của Trung Quốc hiện nay là lần trỗi dậy thứ tư. Trong lịch sử, Trung Quốc ít nhất từng có 3 lần được công nhận là quốc gia lớn mạnh nhất trong vùng, vì thế người ta gọi sự trỗi dậy lần nữa này của Trung Quốc là sự “phục hưng”. Và người ta có thể học được rất nhiều bài học kinh nghiệm từ lịch sử những lần trỗi dậy này.

Lần trỗi dậy thứ nhất xảy ra vào quãng từ thế kỷ III trước CN đến thế kỷ III sau CN, tức từ khi triều nhà Tần thống nhất Trung Quốc cho đến triều nhà Hán. Vào thời nhà Hán, sức ảnh hưởng của Trung Quốc lan tới bán đảo Triều Tiên và vùng Đông Nam Á. Rất nhiều nước xung quanh Trung Quốc thời nhà Hán đã nhập khẩu hàng hóa và công nghệ của triều Hán, chủ yếu là tơ lụa, giấy viết, đồ gốm sứ và các công nghệ lục quân và hải quân. Trong giai đoạn này, ấn tượng sâu sắc nhất mà Trung Quốc đem lại cho mọi người là về kinh tế và văn hóa. Trong hơn 400 năm sau đời Hán, Trung Quốc chia năm xẻ bảy thành mấy tiểu quốc rối loạn bất an. 


Lần trỗi dậy thứ hai cùng với việc kiến lập triều nhà Đường hồi thế kỷ VII. Sức ảnh hưởng của triều Đường truyền bá tới Nhật và các vùng khác ở Đông Á, duy trì được gần 300 năm là nhờ có sự mở cửa [khai phóng] cao độ. Thời Đường chẳng những văn hóa mở cửa mà chính trị cũng mở cửa, Trung Quốc được các học giả phương Tây gọi là “Đế quốc mở cửa”. Sự truyền bá đạo Phật và việc các bộ lạc du mục phương Bắc định cư tại vùng trung nguyên — lực hỗn hợp lớn mạnh của hai loại ảnh hưởng đó đã tạo dựng nên một quốc gia mới, thể hiện tính thế giới cao độ của nó. Sự mở cửa cao độ cũng đem lại một thời đại không ngừng tăng trưởng về thương mại và công nghiệp, tạo dựng được một thời kỳ toàn thịnh thực sự trong lịch sử Trung Quốc.

Lần trỗi dậy thứ ba, với sự triều nhà Minh được lập vào năm 1368 và duy trì được khoảng 400 năm. Trong thời gian này, tư tưởng Nho giáo được tái xác lập là tư tưởng chính thống của tầng lớp thống trị. So với hai lần trước thì lần trỗi dậy này thua kém nhiều, bởi lẽ văn hóa chính trị của Trung Quốc bắt đầu trở nên rất bảo thủ. Chính sách bế quan tỏa quốc dẫn đến tình hình đất nước ngày một xấu đi. Mặc dầu triều Minh tăng cường phòng ngự nhưng vẫn không ngừng bị các nước xung quanh xâm nhập và cuối cùng bị người dân tộc Mãn chinh phục. 

Tiếp đến triều nhà Thanh. Lúc mới thành lập rất hùng mạnh nhưng sau đó tầng lớp cai trị lại tiếp tục duy trì chính sách bảo thủ và bế quan tỏa quốc của triều nhà Minh, và suy sụp dần. Năm 1840, khi Anh Quốc tấn công Trung Quốc thì nhà Thanh đã không còn sức chống trả nữa.

Sự trỗi dậy thiếu hồn đổi mới

Sự trỗi dậy của Trung Quốc ngày nay, ít nhất cho đến bây giờ, không giống như sự trỗi dậy của thời nhà Hán Đường, mà giống như thời nhà Minh (Thanh). Đã không có sự sáng tạo đổi mới chế độ như đời Hán, lại cũng không có sự mở cửa và sự trỗi dậy về văn hóa như đời Đường. Điều duy nhất giống sự trỗi dậy 3 lần trước là phát triển kinh tế và kèm theo là tăng cường sức mạnh quân sự, còn văn hóa về cơ bản vẫn còn ở trạng thái bế quan tỏa quốc, vừa từ chối tiếp thụ các giá trị phổ quát lại vừa không có sức sáng tạo văn hóa ở bên trong. Và có khả năng lặp lại tấn bi kịch của triều nhà Minh, tức là trước khi quốc gia trỗi dậy thực sự thì đã bắt đầu suy thoái. 

Chính sách bế quan tỏa quốc về thể chế và về tư tưởng của triều nhà Minh đã làm cho Trung Quốc bỏ mất cơ hội trở thành một quốc gia biển. Thời kỳ triều nhà Minh là thời mở đầu thế kỷ hàng hải của thế giới. Hồi ấy dù là về mặt nhà nước hay xã hội, Trung Quốc đều có năng lực trở thành quốc gia biển hơn bất cứ quốc gia nào. Trịnh Hòa đi ra biển phía Tây là sự tượng trưng cho năng lực [biển] của nhà nước. Nạn “cướp biển” “điên cuồng lạ thường” ở vùng ven biển Đông Nam là sự tượng trưng cho năng lực biển của dân gian Trung Quốc. Thế nhưng trong điều kiện không có sự đổi mới về tư tưởng và chế độ, nhóm người từng giành được những lợi ích đặc quyền to lớn dưới sự che chở của vương quyền đã chặt đứt con đường Trung Quốc đi lên thành quốc gia biển.
Ý nghĩa của trỗi dậy văn hóa đối với sự phát triển bền vững của quốc gia bị [người Trung Quốc] đánh giá cực thấp. Trỗi dậy thời Hán Đường là trỗi dậy về văn hóa ; suy thoái sau chót cũng là suy thoái về văn hóa. Nếu văn hóa không thể trỗi dậy thì tất nhiên sẽ phát sinh sự chế ước nghiêm trọng đối với kinh tế thậm chí chính trị. Xét từ bên trong, không có sự sản sinh tư tưởng thì không thể có sự đổi mới về chế độ, cuối cùng tất nhiên dẫn đến khép kín và suy thoái. Xét từ bên ngoài, không sinh ra tư tưởng thì không thể tạo dựng được một nền văn hóa và giá trị quan có sức thu hút. Nếu chỉ có trỗi dậy về kinh tế và tiến trình quân sự hóa liên quan với nó, thì [quốc gia ấy] sẽ bị coi là “bá đạo” và là mối “đe dọa”, từ đó làm xấu môi trường quan hệ quốc tế.


Sở dĩ văn hóa không trỗi dậy theo kinh tế, nhân tố hàng đầu là mối quan hệ giữa kinh tế với văn hóa. Dù cho người ta có thể quan sát thấy thí dụ kinh tế và văn hóa đồng thời trỗi dậy (thời Hán Đường) nhưng người ta cũng có thể quan sát thấy thí dụ kinh tế trỗi dậy mà không dẫn đến sự trỗi dậy của văn hóa (triều nhà Minh). Trỗi dậy kinh tế và trỗi dậy văn hóa không tồn tại mối quan hệ tất nhiên với nhau, hai cái đó không phải là cùng một sự việc. Cho dù không có trỗi dậy kinh tế cũng có thể vẫn có trỗi dậy về văn hóa. Bất kể ở Trung Quốc hay ở phương Tây, rất nhiều sáng tạo tư tưởng và văn hóa vĩ đại đã được tiến hành dưới trạng thái cực kỳ nghèo khó.

Ba nhân tố phi kinh tế của trỗi dậy văn hóa

Sáng tạo văn hóa và sự phân quyền của nhà nước, văn hóa mở cửa, người văn hóa độc lập — ba nhân tố phi kinh tế này càng có liên quan với nhau. Nếu tồn tại một trong ba nhân tố đó thì có thể xuất hiện sáng tạo văn hóa. 

Trong lịch sử, mỗi lần xuất hiện trạng thái phân chia quyền lực, nhất là khi hoàng quyền suy thoái, thì ngược lại, văn hóa sẽ xuất hiện tình cảnh phục hưng. Ngày nay mọi người Trung Quốc không muốn chính quyền nhà nước suy thoái để có sự trỗi dậy văn hóa. Ngược lại phần lớn mọi người mong muốn chính quyền nhà nước lớn mạnh cùng với sự trỗi dậy của văn hóa. Vấn đề là trong văn hóa chính quyền nhà nước nên quản lý cái gì, không nên quản lý cái gì.

Một nhân tố quan trọng hơn nữa là nhân cách độc lập của người văn hóa [văn hóa nhân]. Nếu có nhân cách độc lập thì không một nhân tố nào, kể cả chuyên chế và nghèo đói, có thể ngăn trở sự sáng tạo văn hóa. Nước Nga là một thí dụ điển hình. Bất kể nền chuyên chế của Sa Hoàng hay của chủ nghĩa cộng sản đều không thể ngăn cản sự sáng tạo tri thức của các nhà trí thức Nga. Dưới ách chuyên chế, các nhà trí thức Nga đã sáng tạo được một nền văn học nghệ thuật, tư tưởng triết học huy hoàng. Người văn hóa Trung Quốc chưa thể tiến hành sáng tạo văn hóa dưới ách chuyên chế — điều đó có liên quan tới việc người văn hóa ỷ lại cao độ vào chính quyền. Trong lịch sử Trung Quốc chưa từng xuất hiện cái mà phương Tây gọi là quần thể “nhà trí thức”, tức quần thể những người lấy sự sáng tạo tư duy làm nghề nghiệp suốt đời của mình.

Rất rõ ràng, muốn thực hiện sự trỗi dậy văn hóa Trung Quốc, khâu mấu chốt là ở chỗ điều chỉnh mối quan hệ giữa chính trị với văn hóa. Ý tưởng muốn chính quyền là chủ thể của sáng tạo văn hóa hoàn toàn chỉ là không tưởng. Như vậy không phải là nói chính quyền không có bất kỳ mối quan hệ nào với sáng tạo văn hóa, mà hoàn toàn ngược lại.

Thực tế cho thấy Ban Tuyên giáo Trung ương nhiều năm qua không thực hiện cải cách quản lý văn hóa có tính thực chất, mà trở thành một kiểu cơ chế kiểm soát đơn giản, dẫn đến sự chính trị hóa cao độ và quan liêu hóa cao độ trong lĩnh vực văn hóa, khiến cho những gien [gene] sáng tạo văn hóa nguyên sơ nhất cũng hoàn toàn không thể xuất hiện.
Sách lược của chính quyền, chính quyền ủng hộ cái gì và phản đối cái gì đều sẽ gây ra ảnh hưởng sâu sắc đối với sự trỗi dậy văn hóa. Tại Trung Quốc có hiện tượng quá nhiều nguồn lực của chính quyền bị dùng vào việc kiểm soát, và dùng quá ít nguồn lực cho sự sáng tạo cái mới, hoặc rót vào lĩnh vực văn hóa nào chính quyền tán đồng mà thôi. Nhưng có một thực tế là trong bất cứ xã hội nào, rất ít quan chức chính quyền hiểu được nội dung của sáng tạo văn hóa. Do vậy không ít trường hợp chính quyền ủng hộ văn hóa lại dẫn đến sự suy thoái của sự nghiệp văn hóa. Thí dụ điển hình là lĩnh vực Phật giáo, do được chính quyền ra sức ủng hộ, kết quả dẫn đến sự tham nhũng và phân hóa lớn trong nội bộ Phật giáo. Các lĩnh vực văn hóa như văn nghệ, văn học … cũng vậy. 

Việc chính quyền kiểm soát văn hóa đưa đến tình trạng phần lớn mọi người ỷ lại cao độ vào chính quyền, kết quả sẽ dẫn tới suy thoái văn hóa. Đối với những người văn hóa muốn giữ được một số tính độc lập, họ muốn sinh tồn và phát triển thì biện pháp duy nhất họ dùng là chống lại [đối kháng] chính quyền, qua đó tạo ra một loại văn hóa khác đối lập với chính quyền. Đó cũng là một loại văn hóa chính trị hóa quá mức, được người phương Tây khen hay, gọi đấy là sự trỗi dậy văn hóa của Trung Quốc. Nếu xem xét từ lập trường khách quan, dù là sáng tạo văn hóa do bản thân chính quyền tiến hành hay là sáng tạo văn hóa được tiến hành vì để chống lại hiện trạng chính trị, cả hai đều rất khó đi đến sự trỗi dậy của văn hóa.

Chắc chắn là nếu Trung Quốc muốn đi con đường trỗi dậy thời nhà Đường mà tránh đi con đường trỗi dậy thời nhà Minh thì biện pháp duy nhất là phải tiến hành cải cách thể chế văn hóa, giải phóng văn hóa ra khỏi chính trị, ra khỏi thể chế quan liêu, giải phóng người văn hóa ra khỏi quá trình quan liêu chính trị. Chỉ có “nhốt quyền lực vào trong cũi” thì văn hóa Trung Quốc mới có thể trỗi dậy được.

----


* Tác giả Trịnh Vĩnh Niên 郑永年, s. 1962, Thạc sĩ Luật ĐH Bắc Kinh, Tiến sĩ chính trị học ĐH Princeton, hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á thuộc ĐH Quốc gia Singapore, nhà bình luận nổi tiếng của Báo Buổi Sớm (Singapore), thường viết về chủ đề Trung Quốc với thái độ phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, được nhiều báo Trung Quốc đăng lại.

** Vương Canh Vũ, s. 1930, Tiến sĩ sử học ĐH London, thời gian 1957-86 từng dạy ở ĐH Malaya (Malaysia) rồi ĐH Quốc gia Australia, 1986-95 Hiệu trưởng trường ĐH Hong Kong, 1997-2007 Giám đốc Viện Đông Á thuộc Đại học quốc gia Singapore, từ 2007 tới nay là Giáo sư đặc cấp Đại học Quốc gia Singapore kiêm Chủ tịch Viện Nghiên cứu Đông Á.

Nguyễn Hải Hoành lược dịch và ghi chú:

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6346&CategoryID=42

Nguồn:
http://business.sohu.com/20130424/n373836036.shtml
郑永年:中国创造经济奇迹 但为何文化没有崛起?