Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

INTERNET 10 NĂM QUA

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET TRONG 10 NĂM QUA

http://media.tinhte.vn/photo/var/albums/2011/Internet-Decade-Later-Infographic.gif?m=1347913845

TRÀ VÀ CÀ PHÊ

INFOGRAPHIC - TRÀ VÀ CÀ PHÊ

Trà và cà phê là 2 loại thức uống được nhiều người ưa thích nhất. Có những gì đặc biệt về trà và cà phê mà bạn chưa biết? Hãy cùng tham khảo về 2 loại đồ uống này.


Các nhà khoa học đều công nhận rằng uống trà tốt cho sức khỏe bởi các lý do sau:
  • Các chất chống ôxy hóa trong trà giúp làm chậm đi sự lão hóa của tế bào.
  • Chất gallotanin trong trà ngăn chặn sự thoái hóa của tế bào thần kinh và kích thích quá trình phục hồi của chúng. Do đó, uống trà cũng tốt cho não bộ.
  • Các flavonoide trong trà hạn chế sự lắng đọng cholesterol và xơ hóa mạch máu, làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim và tỷ lệ tử vong do các vấn đề tim mạch.
  • Trà cũng có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, giúp tinh thần hưng phấn, kích thích hô hấp và làm tim đập nhanh hơn.
Ngoài ra, uống trà còn có khả năng phòng chống ung thư, ngăn chặn sự tổn thương ADN, ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh parkinson và hạn chế sự loãng xương ở người già.

Uống cà phê đủ liều lượng có thể giúp bạn giảm được nguy cơ mệt mỏi, căng thẳng, đau đầu khó chịu hay vướng vào một số bệnh như cao huyết áp, tiểu đường típ 2, gan, hen suyễn hay dị ứng…

Còn những gì đặc biệt về trà và cà phê mà bạn chưa biết? Hãy cùng tham khảo về 2 loại đồ uống này:



Theo TTVN
Vĩnh Bảo sưu tầm 5/7/2013
http://vinhsinh.blogspot.com/2013/07/tra-va-ca-phe.html


LỢI ÍCH VÀ LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA CÁC LOẠI TRÀ

Đọc thêm
Vĩnh Bảo sưu tầm 5/7/2013



Từ xa xưa, trà đã được biết đến không chỉ như một thứ nước giải khát thông dụng, bồi bổ sức khỏe mà còn có tác dụng chữa lành và ngăn ngừa một số lọai bệnh.Trước đây, nguyên liệu dùng để chế biến trà chủ yếu lấy từ cây chè. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng vùng khí hậu, phương thức chăm sóc, cách thu hái, chế biến mà người ta chia trà ra nhiều lọai khác nhau như trà ướp sen thì gọi là trà sen, ướp lài thì gọi trà lài, trà được sao chế từ những búp non là trà búp.

Hãy cùng theo dõi Infographic dưới đây để hiểu rõ hơn về lịch sử ra đời của trà và các lợi ích sức khoẻ mà trà mang lại.



Nguồn: Infographicsarchive

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

HỌC LÀM NGƯỜI (Vinh Bao st)

ĐẠI SƯ TINH VÂN CÓ MỘT NGƯỜI ĐỆ TỬ, SAU KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC LIỀN HỌC THẠC SĨ, RỒI LẠI HỌC TIẾN SĨ, SAU NHIỀU NĂM ĐÈN SÁCH CUỐI CÙNG CŨNG ĐÃ HOÀN THÀNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÊN VÔ CÙNG MỪNG VUI.
MỘT HÔM NGƯỜI ĐỆ TỬ NÀY TRỞ VỀ, THƯA VỚI ĐẠI SƯ.
- THƯA THẦY NAY CON ĐÃ CÓ HỌC VỊ TIẾN SĨ RỒI, SAU NÀY CON PHẢI HỌC NHỮNG GÌ NỮA ?
NGÀI TINH VÂN BẢO : HỌC LÀM NGƯỜI, HỌC LÀM NGƯỜI LÀ VIỆC HỌC SUỐT ĐỜI CHẲNG THỂ NÀO TỐT NGHIỆP ĐƯỢC.

1/. THỨ NHẤT, “HỌC NHẬN LỖI” : CON NGƯỜI THƯỜNG KHÔNG CHỊU NHẬN LỖI LẦM VỀ MÌNH, TẤT CẢ MỌI LỖI LẦM ĐỀU ĐỔ CHO NGƯỜI KHÁC, CHO RẰNG BẢN THÂN MÌNH MỚI ĐÚNG, THẬT RA KHÔNG BIẾT NHẬN LỖI CHÍNH LÀ MỘT LỖI LẦM LỚN.

2/. THỨ HAI, “HỌC NHU HÒA” : RĂNG NGƯỜI TA RẤT CỨNG, LƯỠI NGƯỜI TA RẤT MỀM, ĐI HẾT CUỘC ĐỜI RĂNG NGƯỜI TA LẠI RỤNG HẾT, NHƯNG LƯỠI THÌ VẪN CÒN NGUYÊN, CHO NÊN CẦN PHẢI HỌC MỀM MỎNG, NHU HÒA THÌ ĐỜI CON NGƯỜI TA MỚI CÓ THỂ TỒN TẠI LÂU DÀI ĐƯỢC. Tr thay chua 3TÂM NHU HÒA LÀ MỘT TIẾN BỘ LỚN TRONG VIỆC TU TẬP.

3/. THỨ BA, ”HỌC NHẪN NHỤC” : THẾ GIAN NÀY NẾU NHẪN ĐƯỢC MỘT CHÚT THÌ SÓNG YÊN BỂ LẶNG, LÙI MỘT BƯỚC BIỂN RỘNG TRỜI CAO. NHẪN, VẠN SỰ ĐƯỢC TIÊU TRỪ. NHẪN CHÍNH LÀ BIẾT XỬ SỰ, BIẾT HÓA GIẢI, DÙNG TRÍ TUỆ VÀ NĂNG LỰC LÀM CHO CHUYỆN LỚN HÓA THÀNH NHỎ, CHUYỆN NHỎ HÓA THÀNH KHÔNG.

4/. THỨ TƯ, “HỌC THẤU HIỂU” : THIẾU THẤU HIỂU NHAU SẼ NẢY SINH NHỮNG THỊ PHI, TRANH CHẤP, HIỂU LẦM. MỌI NGƯỜI NÊN THẤU HIỂU THÔNG CẢM LẪN NHAU, ĐỂ GIÚP ĐỠ LẪN NHAU. KHÔNG THÔNG CẢM LẪN NHAU LÀM SAO CÓ THỂ HÒA BÌNH ĐƯỢC ?

5/.  THỨ NĂM, “HỌC BUÔNG BỎ” : CUỘC ĐỜI NHƯ MỘT CHIẾC VALI, LÚC CẦN THÌ XÁCH LÊN, KHÔNG CẦN DÙNG NỮA THÌ ĐẶT NÓ XUỐNG, LÚC CẦN ĐẶT XUỐNG THÌ LẠI KHÔNG ĐẶT XUỐNG, GIỐNG NHƯ KÉO MỘT TÚI HÀNH LÝ NẶNG NỀ KHÔNG TỰ TẠI CHÚT NÀO CẢ. NĂM THÁNG CUỘC ĐỜI CÓ HẠN, NHẬN LỖI, TÔN TRỌNG, BAO DUNG, MỚI LÀM CHO NGƯỜI TA CHẤP NHẬN MÌNH, BIẾT BUÔNG BỎ THÌ MỚI TỰ TẠI ĐƯỢC !

Tr thay chua6/. THỨ SÁU, “HỌC CẢM ĐỘNG” : NHÌN THẤY ƯU ĐIỂM CỦA NGƯỜI KHÁC CHÚNG TA NÊN HOAN HỶ, NHÌN THẤY ĐIỀU KHÔNG MAY CỦA NGƯỜI KHÁC NÊN CẢM ĐỘNG. CẢM ĐỘNG LÀ TÂM THƯƠNG YÊU, TÂM BỒ TÁT, TÂM BỒ ĐỀ; TRONG CUỘC ĐỜI MẤY MƯƠI NĂM CỦA TÔI, CÓ RẤT NHIỀU CÂU CHUYỆN, NHIỀU LỜI NÓI LÀM TÔI CẢM ĐỘNG, CHO NÊN TÔI CŨNG RẤT NỖ LỰC TÌM CÁCH LÀM CHO NGƯỜI KHÁC CẢM ĐỘNG.

7/.  THỨ BẢY, “HỌC SINH TỒN” : ĐỂ SINH TỒN, CHÚNG TA PHẢI DUY TRÌ BẢO VỆ THÂN THỂ KHỎE MẠNH; THÂN THỂ KHỎE MẠNH KHÔNG NHỮNG CÓ LỢI CHO BẢN THÂN, MÀ CÒN LÀM CHO GIA ĐÌNH, BẠN BÈ YÊN TÂM, CHO NÊN ĐÓ CŨNG LÀ HÀNH VI HIẾU ĐỄ VỚI NGƯỜI THÂN.

MỸ NHÀN POST
VĨNH BẢO SƯU TẦM 1/7/2013

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

NÔNG THÔN "buồn"

Giật mình thu nhập của 70% dân số


Thứ sáu 28/06/2013 07:08

Kết quả điều tra từ 2006 – 2012 có trên 20% số hộ giảm chi tiêu về lương thực, thực phẩm. 50% số hộ được điều tra phải vay nợ để trang trải trong cuộc sống và sản xuất. Trong đó tiền nợ chủ yếu là vay tư nhân, còn nguồn vay từ ngân hàng chỉ chiếm hơn 13%.
Đó là thông tin được TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Tư vấn chính sách (IPSARD) 
chia sẻ trong buổi hội thảo “Bức tranh nông thôn, nông dân Việt Nam nhìn từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình (VARHS) ngày 27/6.
Thu nhập và chi tiêu của các hộ nông dân tăng trong giai đoạn 2006 – 2010 đang ngày càng giảm mạnh. Tiết kiệm của hộ gia đình nông thôn hiện nay chỉ khoảng 5 – 8 triệu đồng/hộ/năm, chiếm từ 10 – 15% thu nhập của mỗi hộ. Tiết kiệm của các hộ gia đình nông thôn (80%) được giữ dưới dạng vàng hoặc tiền mặt và sử dụng cho mục đích dự phòng khi có rủi ro xảy ra về thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, tuổi già, rất ít được tiết kiệm cho mục đích đầu tư.

Nói về mức độ tăng thu nhập của hộ gia đình nông thôn đang giảm dần trong những năm trở lại đây, ông Đặng Kim Sơn – Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD) cho biết: “Mặc dù 3 cuộc điều tra gần đây đúng vào thời điểm kinh tế Việt Nam và Thế giới gặp khó khăn, nhưng nhìn chung mức sống của người dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn tiếp tục chuyển đổi tốt, sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên, càng về sau, đặc biệt cuộc điều tra năm 2012 cho thấy tốc độ tăng về thu nhập của người nông dân càng ngày càng giảm, đặc biệt khó khăn diễn ra ở những nhóm nghèo nhất”.
Dù làm việc rất vất vả nhưng thu nhập của nông dân giảm mạnh những năm gần đây.
 Ảnh: Quỳnh Anh
Ông Sơn cũng cho biết thêm: “Thu nhập của người dân suy giảm khác nhau giữa các vùng, rõ nhất là ở những vùng sản xuất hàng hóa lớn, cả đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long nơi mà sản xuất lúa, cà phê, cá da trơn những năm vừa rồi đem lại thu nhập lớn cả cho nông dân và doanh nghiệp. Những thay đổi lớn như hiện nay đang gây khó khăn cho cả người sản xuất và kinh doanh, thêm vào đó có 2 nhóm sản xuất hết sức quan trọng như nuôi trồng thủy sản, nuôi tôm và nhóm chăn nuôi, gặp phải khó khăn rất lớn suy giảm về thu nhập, sức mua trong nước giảm, thị trường thế giới. Giá đầu vào tăng đặc biệt là thức ăn chăn nuôi, thêm vào đó bệnh dịch cả cho gia súc và thủy sản”.
Xoay quanh mức thu nhập của hộ nông thôn giảm, ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho biết, thu nhập từ nông nghiệp giảm dần, thu nhập từ tiền công tăng nhẹ, thu nhập từ các hoạt động phí chính thức tăng lên. Tỉ lệ nghèo không giảm trong giai đoạn 2010 – 2012 đi cùng với việc tăng số hộ tái nghèo.
Những rào cản khiến nông dân gặp nhiều khó khăn trong sản xuất được chỉ ra là đất đai phân tán, manh mún; các yếu tố đầu vào trong sản xuất tăng cao trong khi thông tin thị trường và chính sách hỗ trợ yếu. Vấn đề tiêu thụ, chế biến và bảo quản nông sản là những vướng mắc lớn chưa thể giải quyết.
Cũng tại hội thảo Thạc sĩ Trần Thị Thanh Nhàn, cán bộ IPSARD chia sẻ: Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các thảm họa thiên nhiên, thiệt hại hàng năm do thiên tai là 1,5%  GDP và ảnh hưởng trực tiếp tới 9000 người. Trong đó mùa màng và chăn nuôi bị ảnh hưởng nặng nề do thiên tai và dịch bệnh.

Từ số liệu nghiên cứu của (IPSARD) đưa ra, hiện có tới 50% số hộ gia đình nông thôn chịu cú sốc về thu nhập, bà Nhàn cho biết: Sốc ở đây có 2 loại, thứ nhất là sốc tập thể tức là khi xảy ra cả làng cả huyện cả tỉnh cùng phải chịu, thứ hai là sốc cá nhân chỉ từng gia đình bị, xảy ra khi có người ốm đau, kinh doanh thua lỗ. Những bằng chứng thu thập được chỉ ra nguy cơ tổn thương trước các cú sốc  mang tính cá nhân đặc biệt do vấn đề sức khỏe.
Kết quả điều tra từ 2006 – 2012 có trên 20% số hộ giảm chi tiêu về lương thực, thực phẩm. 50% số hộ được điều tra phải vay nợ để trang trải trong cuộc sống và sản xuất. Trong đó tiền nợ chủ yếu là vay tư nhân, còn nguồn vay từ ngân hàng chỉ chiếm hơn 13%.
Ông Đặng Kim Sơn bày tỏ lo ngại, trong 3 năm 2010 – 2012, niềm tin của người dân có phần thay đổi. Giới trẻ vẫn tiếp tục giữ vững lòng tin vào tương lai nhưng lớp già, trung niên, chủ hộ, có một sự thay đổi đáng kể trong niềm tin, họ lo ngại về tương lai cụ thể nếu năm 2008 tổng mức độ niềm tin của người dân thuộc dân tộc Kinh và các dân tộc khác chiếm xấp xỉ gần 90% thì năm 2012 giảm xuống còn 81%.
Qua đây ông Sơn khuyến nghị: "Phải thừa nhận nông nghiệp vẫn là mặt trận hàng đầu giúp cho đất nước đi qua khó khăn trong tình hình hiện nay và nông dân là lực lượng chủ lực trong quá trình đó. Đã đến lúc chúng ta phải nhanh chống hỗ trợ cho nông nghiệp, giúp cho nông thôn phát triển để nông dân có thể phục hồi sức lực để đứng vững, vượt qua khó khăn".

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2013

BS Dương Quang Trung từ trần

Viện sĩ, tiến sĩ Dương Quang Trung: Người thầy thuốc mẫu mực


Thứ Năm, 27/11/2008 17:03

Anh hùng lao động, thầy thuốc nhân dân VS.TS. Dương Quang Trung, người Đảng viên cộng sản có 56 tuổi đảng, 50 năm hoạt động chuyên môn, đã dành cả tâm hồn, trí tuệ, sức lực cống hiến cho sự nghiệp y tế Việt Nam.
Sinh trưởng tại xã An Xuyên một vùng quê nghèo thuộc tỉnh Cà Mau, Dương Quang Trung được cha, một nhà nho yêu nước luôn rèn dạy con tình yêu thương đồng bào, biết sống vì Tổ quốc, vì mọi người. Sau khi học xong trung học tại Sài Gòn, theo gương mẹ, một nữ hộ sinh tận tụy, anh quyết chí theo ngành y để trị bệnh cứu người. Bằng sự nỗ lực của bản thân, với sự giúp đỡ của gia đình, anh sang du học ở Pháp năm 1948 và tốt nghiệp tiến sĩ y khoa năm 1958 tại Đại học y khoa Bordeaux, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản Pháp từ năm 1952, tham gia các hoạt động ủng hộ kháng chiến, chống chiến tranh xâm lược ở Việt Nam.
Năm 1960, sau gần 13 năm sống ở Pháp, ông bà cùng 3 con quyết định trở về quê hương, về Hà Nội, đồng cam cộng khổ với các đồng nghiệp trong thời kỳ kinh tế nhiều khó khăn, mà không chọn về Sài Gòn để có cuộc sống đầy đủ và an nhàn hơn. Với kiến thức của một tiến sĩ y khoa được đào tạo ở nước ngoài, với 2 năm đào tạo chuyên khoa ngoại lồng ngực, TS. Dương Quang Trung được điều động về công tác tại Viện chống lao Trung ương và được đề bạt làm Phó chủ nhiệm Khoa phẫu thuật phổi của Viện. Ông cũng đã giúp GS. Tôn Thất Tùng trong việc xây dựng Khoa phẫu thuật phổi ở Bệnh viện hữu nghị Việt Đức.
Năm 1965, 10 năm sau ký kết Hiệp định Genève, nước nhà vẫn còn bị chia cắt, đế quốc Mỹ tiếp tục đổ quân vào miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Bộ trưởng Bộ Y tế khi ấy là BS. Phạm Ngọc Thạch triển khai kế hoạch đưa nhiều cán bộ có trình độ về miền Nam, đáp ứng yêu cầu của chiến trường. TS. Dương Quang Trung đã tình nguyện trở về miền Nam góp công sức cùng đồng bào chống Mỹ cứu nước. Vợ ông, BS. Võ Thị Lan trong suốt 15 năm trời ở lại miền Bắc, đảm đang nuôi dạy 4 con nhỏ trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ, phải đưa con đi sơ tán, với hoàn cảnh kinh tế vô cùng khó khăn của đất nước.
Tháng 3/1965, ông lên đường vào chiến trường miền Nam, đang đi vào thời kỳ ác liệt. Sau 3 tháng hành quân vất vả vượt Trường Sơn, trèo đèo lội suối, ông tới vùng giải phóng, tham gia xây dựng và làm việc tại Bệnh viện Hoàng Lệ Kha, bệnh viện phục vụ cán bộ của Ban dân y Trung ương cục.
Theo yêu cầu của chiến trường, với chiến lược 2 chân (quân sự - chính trị), 3 mũi (quân sự - chính trị - binh vận), BS. Dương Quang Trung, ngoài nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe cho cán bộ lãnh đạo, được điều động hoạt động bí mật trong nội thành khu Sài Gòn - Gia Định, công tác ở Ban trí vận - mặt trận. Trong đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, ông đã cùng đồng đội tổ chức đưa các nhân sĩ trí thức, như luật sư Trịnh Đình Thảo, GS. Nguyễn Văn Kiết, BS. Dương Quỳnh Hoa, kỹ sư Nguyễn Văn Bổn và nhiều vị khác ra chiến khu tham gia thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Sau ngày miền Nam được giải phóng. TS. Dương Quang Trung đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, trực thuộc Ủy ban quân quản khu Sài Gòn - Gia Định và sau khi là Phó Giám đốc, ông đảm nhiệm chức vụ Giám đốc sở y tế, trực thuộc Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, từ 1981 - 1997.
Những năm đầu sau giải phóng, ngành y tế TP. Hồ Chí Minh với bộn bề công việc, TS. Dương Quang Trung tham gia chỉ đạo sát sao và quyết liệt trong công tác phòng chống nhiều dịch bệnh, khống chế các bệnh xã hội do chế độ cũ để lại. Với tấm lòng chân thành của mình, ông tới thăm, chuyện trò với nhiều trí thức là nhân viên cao cấp của chính quyền cũ, vận động nhiều bác sĩ và cán bộ y tế trước kia đứng bên kia chiến tuyến, ở lại xây dựng đất nước. Để giảm bớt khó khăn về đời sống của nhân viên y tế, Giám đốc Dương Quang Trung đã đề xuất phương án cho phép bác sĩ mở phòng khám bệnh ngoài giờ, ở bệnh viện hay ở nhà riêng, cho phép các dược sĩ mở nhà thuốc tư nhân, đại lý bán thuốc. Chủ trương này đã góp phần giúp đa số cán bộ ngành ổn định cuộc sống, yên tâm ở lại công tác tại các cơ quan.
Ngày 4/10/1988, tại TP. Hồ Chí Minh, có một sự kiện lớn: TS. Dương Quang Trung, Giám đốc Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, đã tổ chức và chỉ huy ca mổ lịch sử, quy tụ gần 70 chuyên gia tên tuổi đầu ngành, thực hiện ca mổ tách đôi cặp song sinh Việt - Đức. Ca mổ tiến hành trong hơn 15 giờ, đã thành công và là ca mổ tách đôi cặp song sinh phức tạp và lớn tuổi nhất trên thế giới lúc bấy giờ, được đưa vào sách kỷ lục Guinness, đánh dấu sự hợp đồng tác nghiệp có hiệu quả và sự trưởng thành của ngành y tế thành phố.
Đức dần lớn lên, khỏe mạnh, với đôi nạng đã đi lại bình thường và đi được xe máy ra phố, ra chợ... Năm 2006, Đức mong muốn được lập gia đình như người bình thường, và do Đức vẫn coi Viện sĩ Dương Quang Trung là ông ngoại, nên mời ông làm chủ hôn cho đám cưới của vợ chồng Đức, ngày 4/10/2006.
Vợ chồng Đức và VS.TS. Dương Quang Trung trong ngày gặp mặt 20 năm.
Vào những năm cuối thập kỷ 80, Giám đốc sở y tế, VS.TS. Dương Quang Trung đã có sự hợp tác tốt đẹp giữa y tế thành phố với GS. Alain Carpentier, Chủ tịch Hiệp hội Alain Carpentier (Pháp) bắt tay xây dựng một Viện Tim, với nhiều trang thiết bị hiện đại. Viện Tim được khởi công xây dựng vào cuối tháng 4/1990 và hoạt động từ ngày 1/1/992 theo quy chế tự quản, tự cân đối thu chi, không nhằm mục đích lợi nhuận, tiếp nhận những bệnh nhân có khả năng đóng góp và giúp đỡ những bệnh nhân nghèo. Đến nay, Viện Tim đã mổ được trên 17.974 ca, với tỷ lệ thành công gần 98%. Trong hơn 17 năm, đã có 4.682 bệnh nhân nghèo được giúp đỡ một phần hoặc hoàn toàn chi phí mổ tim với tổng số tiền trên 101 tỷ đồng. Đặc biệt là có tới trên 1.900 bệnh nhân được giúp đỡ 100% chi phí mổ. Viện Tim đã chuyển giao kỹ thuật cho nhiều bệnh viện ở Trung ương và một số tỉnh. Ngày 11/12/2006, Viện Tim đã được đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới.
Vận dụng đúng đắn chủ trương của Bác Hồ về xây dựng một nền y tế của ta, kết hợp với xu hướng của y học hiện đại thế giới, VS.TS. Dương Quang Trung đã tham gia lãnh đạo các hoạt động của y tế TP. Hồ Chí Minh, theo hướng đẩy mạnh công tác dự phòng, củng cố y tế cơ sở, tổ chức tốt các chiến dịch tiêm chủng mở rộng, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống dịch bệnh, đồng thời xây dựng và phát triển các chuyên khoa sâu với kỹ thuật cao. Ông đã góp phần xây dựng Trung tâm chẩn đoán y khoa, một mô hình xã hội hóa sử dụng kỹ thuật cao, với giá cả phải chăng.
Năm 1989, trên cương vị cán bộ đầu ngành Y tế thành phố, VS.TS. Dương Quang Trung là người xin chủ trương và chỉ đạo xây dựng Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế của thành phố, thực hiện nghị quyết của Thành ủy, TP. Hồ Chí Minh, với sự đồng thuận của Trung ương và ông trở thành Hiệu trưởng đầu tiên của Trung tâm, một mô hình cải cách giáo dục, nhằm đào tạo các bác sĩ tổng quát hướng về cộng đồng. Người bác sĩ được đào tạo theo kiểu mới, có kiến thức vững vàng về y học cơ sở, vừa học tập lâm sàng tại các bệnh viện, vừa thực tập thực địa ở cộng đồng, tiếp cận được với mạng lưới y tế cơ sở. Mô hình “Trường - Viện - Cộng đồng” là một chủ trương sáng tạo, đã có nhiều đóng góp hiệu quả trong việc kiện toàn mạng lưới y tế của thành phố. Tới ngày 28/12/2007, Trung tâm đã làm lễ tốt nghiệp Đại học y chính quy khóa XIII và Đại học y tập trung 4 năm khóa V, và đã cho ra trường hàng nghìn bác sĩ và điều dưỡng, đang phục vụ ở tất cả các cơ sở y tế của Trung ương và thành phố... Trung tâm giờ đây đã trưởng thành, là cơ sở đào tạo thầy thuốc có tín nhiệm. Ngày 7/1/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Trường đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, trên cơ sở tổ chức tại Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế TP. Hồ Chí Minh.
VS.TS. Dương Quang Trung vẫn tiếp tục hoạt động không mệt mỏi trong những năm tuổi đã ngoài thất thập. Có lúc ông đảm nhiệm 13 chức vụ, trong đó có tới 5 chức vụ chủ tịch. Với cương vị Chủ tịch Hội đồng khoa học công nghệ Sở Y tế và Giám đốc TTĐT & BDCBYT/TP.HCM, ông đã tham gia xây dựng nhiều chương trình nghiên cứu khoa học, với các đề tài ứng dụng thiết thực trong y học cơ sở, y học lâm sàng và trong việc hiện đại hóa ngành dược.
Năm nay, VS.TS. Dương Quang Trung đã ở tuổi 80, nhưng vẫn mạnh khỏe, dẻo dai. Ông vẫn tiếp tục tham gia giảng dạy ở Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch và là Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển sức khỏe cộng đồng. Ông còn tham gia lãnh đạo nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp như Chủ tịch Hội Y học TP. Hồ Chí Minh - Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội quân dân y Sài Gòn - Gia Định, Chủ tịch Hội hành nghề y tư nhân và các tổ chức từ thiện như: Chủ tịch danh dự Hội bảo trợ trẻ em, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ chất độc da cam, tham gia Hội bảo trợ bệnh nhân nghèo...
Ông bà có một cuộc sống an nhàn và hạnh phúc. Vợ ông là điểm tựa giúp cho ông gặt hái được những thành công ở ngoài đời. Bà là BS. Võ Thị Lan, nguyên Phó giám đốc Trung tâm răng-hàm-mặt TP. Hồ Chí Minh. Ngoài việc hoàn thành công tác chuyên môn ở cơ quan, khi trở về nhà bà còn là một người vợ, người mẹ giỏi giang, đảm đang các công việc gia đình để ông dốc tâm sức cho công tác ngoài xã hội. Ông luôn chia sẻ với người vợ thân yêu mỗi khi ông có niềm vui hay thành công, những lúc đón nhận huân chương và danh hiệu vinh quang, và ông muốn dành nhiều thời gian để bù đắp cho bà, vì bà đã hy sinh quá nhiều cho ông. Ông bà luôn tâm niệm không chú trọng làm giàu hay danh lợi. Ông bà chủ trương không để lại cho con gia tài, mà rèn luyện cho con có một nghề nghiệp tốt, và cha mẹ là tấm gương để các con phấn đấu noi theo... Gia đình, theo cách nói của ông, là “thuốc an thần”.
Đảng, Nhà nước nhân dân đã đánh giá cao công lao của ông, đã trao tặng các danh hiệu cao quý: huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, danh hiệu Thầy thuốc nhân dân (1995), danh hiệu Anh hùng lao động (2003), danh hiệu chiến sĩ thi đua nhiều năm và nhiều huân, huy chương cao quý khác, VS.TS. Dương Quang Trung được nhân dân tín nhiệm, đồng nghiệp quý trọng và nhiều thế hệ học trò quý mến.
Trần Giữu

Vĩnh biệt viện sĩ - bác sĩ Dương Quang Trung

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130623/vinh-biet-vien-si-bac-si-duong-quang-trung.aspx


(TNO) Người thầy thuốc cao cả, đóng góp rất nhiều cho ngành y tế nước nhà vừa vĩnh viễn ra đi.

Khoảng 19 giờ hôm nay 23.6, thi thể của viện sĩ - bác sĩ Dương Quang Trung được đưa về đến sân bay Tân Sơn Nhất, TP.HCM.
Bác sĩ Dương Quang Trung vừa mất vào đêm 22.6 tại một bệnh viện ở Singapore.
Trước đó, vào đầu tuần này, bác sĩ Dương Quang Trung đột ngột lâm bệnh (bệnh bóc tách động mạch chủ ngực), được đưa vào cấp cứu ở Viện tim TP.HCM.
Bác sĩ Dương Quang Trung (phải) và giáo sư Alain Carpentier, Pháp (người đồng sáng lập Viện Tim TP.HCM)
Bác sĩ Dương Quang Trung (phải) và giáo sư Alain Carpentier, Pháp (người đồng sáng lập Viện tim TP.HCM)
Sau khi qua cơn nguy kịch, các bác sĩ hội ý với nhau đưa bác sĩ Dương Quang Trung sang Singapore để điều trị.
Đích thân bác sĩ Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Chẩn đoán y khoa Medic đưa bác sĩ Dương Quang Trung sang Singapore.
Qua Singapore điều trị được hai hôm, tình trạng có đỡ. Dự kiến đầu tuần tới sẽ về lại Việt Nam, nhưng chiều 22.6, bệnh tình của bác sĩ Dương Quang Trung đột ngột trở nặng. Ông qua đời lúc 19 giờ cùng ngày.
Bác sĩ Dương Quang Trung sinh năm 1928 tại Cà Mau, cha ông là một nhà nho yêu nước, mẹ là nữ hộ sinh.
Bác sĩ Dương Quang Trung trong ngày nhận Huân chương Quốc công (năm 2006) do nước Pháp trao tặng

Bác sĩ Dương Quang Trung trong ngày nhận Huân chương Quốc công (năm 2006) do nước Pháp trao tặng 2
Bác sĩ Dương Quang Trung trong ngày nhận Huân chương Quốc công (năm 2006) do nước Pháp trao tặng
Ông là người đầu tiên giữ cương vị Giám đốc Sở Y tế TP.HCM (vào tháng 7.1975); là người sáng lập ra Viện tim TP.HCM, và Trung tâm Đào tạo & Bồi dưỡng cán bộ y tế (nay là Trường đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM).
Ông cũng là người lập nên các trung tâm y tế chuyên sâu của thành phố, mà ngày nay là các BV chuyên khoa mũi nhọn hàng đầu của khu vực phía Nam, gồm: BV Ung Bướu, BV Chấn thương chỉnh hình, BV Tai - Mũi - Họng, BV Phạm Ngọc Thạch, BV Mắt TP.HCM, BV Truyền máu huyết học...
Ông cũng là người chủ trương phát triển y tế cơ sở, và y tế tư nhân, được anh em trong ngành gọi thân mật là  “anh Tư Trung”.
Bác sĩ Dương Quang Trung lấy bằng tiến sĩ y khoa tại Pháp năm 1958, và sau đó trở thành bác sĩ phẫu thuật lồng ngực của Viện Hàn lâm quốc gia về phẫu thuật của Pháp.
Ông từng được nước Pháp phong viện sĩ, tiến sĩ, và trao Huân chương Quốc công (do Tổng thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac ký tặng)...
Tin, ảnh: Thanh Tùng

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

Khốn khổ Nông Dân Việt

Sau 24 năm 'cường quốc', Việt Nam có gì?


TUANVIETNAM - 14/06/2013 - 

 Vì sao tiếng kêu của người làm nông nghiệp không "rầm rộ" như lĩnh vực khác trong thời điểm đầy khó khăn, nguy nan? Phải chăng là do "Bộ trưởng hiền quá!", như nhận xét của đại biểu Trần Hoàng Ngân?
Đã khá lâu, người nông dân và những ai quan tâm đến nông nghiệp - nông thôn mới nghe được những lời chất vấn sắc nét, rõ vấn đề như đại biểu Trần Hoàng Ngân với Bộ trưởng Bộ NN - PTNT Cao Đức Phát! Dù rằng, hàng loạt vấn nạn của ngành NN - PTNT lâu nay cứ "đến hẹn lại lên", thậm chí ngày một trầm kha.
Trầm kha và xót xa nhất là lúa nông dân làm ra bán không được, ế thừa khắp nơi. Trả lời chất vấn của phóng viên làm sao đảm bảo cho nông dân lãi 30% như yêu cầu của Chính phủ, ông chủ tịch Hiệp hội lương thực VN, kiêm TGĐ Tổng Công ty lương thực miền Nam đã cáu kỉnh: "Lúc này chỉ nói bán được hay không thôi! Không bán thì đem cho vịt ăn!".
Sau 24 năm, tức gần 1/4 thế kỷ, nông dân VN được xưng tụng như những anh hùng đã đưa đất nước từ chỗ nhập khẩu lúa gạo lớn, thành quốc gia xuất khẩu lúa gạo thứ hai thế giới.
Ngược dòng lịch sử, cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, VN và Myanmar từng là hai quốc gia xuất khẩu gạo lớn ở châu Á. Do hoàn cảnh chiến tranh, xung đột, hai nước vắng bóng suốt thời gian dài.
Đến năm 1989, nhờ công cuộc Đổi mới, cụ thể là Khoán 10 và Chỉ thị 100, VN đã "xuất thần" trở lại ngôi vị cường quốc xuất khẩu lúa gạo trước sự ngỡ ngàng của thế giới và cả chính chúng ta.
Thành tựu này vĩ đại đến mức, suốt hàng chục năm sau đó, trong báo cáo thành tích của các ngành đều có câu "góp phần đưa đất nước thành cường quốc xuất khẩu gạo"! Ngành NN- PTNT, Hội Nông dân VN viết vào báo cáo như vậy còn có lý. Nhưng nhiều ngành chẳng dính dáng đến nông nghiệp cũng "chia sẻ" thành tích này với niềm tự hào to lớn.
Nhắc lại để thấy rằng, thành tích kỳ diệu sau khi trở lại ngôi "cường quốc" lúc ấy có tác động to lớn không chỉ về kinh tế, mà lan rộng ra tất cả các lĩnh vực khác.
Tuy nhiên, ánh hào quang lấp lánh của ngôi vị đã lụi tàn vào giai đoạn sau. Đến hôm nay, nếu không chấp nhận bán đổ bán tháo, nông dân phải "để cho vịt ăn", thì quả là đáng buồn!
nông nghiệp, chất vấn quốc hội, được mùa mất giá, xuất khẩu lúa gạo, bộ trưởng Cao Đức Phát
Bộ trưởng Cao Đức Phát. Ảnh: Minh Thăng
Không chỉ cây lúa "chịu đời đắng cay"
Năm 2012, ngành NN - PTNT được xem là "điểm sáng" vì đã làm trụ đỡ cho nền kinh tế gặp khủng hoảng. Kim ngạch xuất khẩu vẫn cao hơn năm trước.
Nhưng cái giá phải trả cực đắt: Nông dân càng làm ra nhiều sản phẩm càng lỗ! Càng xuất khẩu càng khó khăn. Những đồng ngoại tệ mang về cho đất nước lúc khủng hoảng quý giá vô ngần chính là mồ hôi, nước mắt của nông dân.
Không chỉ người trồng lúa, mà cả người chăn nuôi, trồng cây trái, hoa quả, rau màu, v.v... Mặt trận nông nghiệp gần như đều chung số phận thua lỗ! Báo chí phản ánh nhiều đến nỗi nhàm chán. Một số chính sách, chương trình đã được đưa ra nhưng gần như chưa có tác dụng.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân trong phiên chất vấn tại Quốc hội ngày 12/6 đã "nói hộ" nỗi lòng của người nông dân. Theo ông, trong khi các ngành gặp khủng hoảng như bất động sản người ta lăn xả, đánh động, sùng sục tìm giải pháp, kiến nghị Chính phủ, đưa ra Quốc hội... thì tiếng kêu của người làm nông nghiệp tắt lịm trước khi đến cấp cao!
Tại các kỳ họp trước, ở cơ sở người làm nông nghiệp lo toan mất ăn mất ngủ, thua lỗ, phá sản, tuyệt vọng..., còn chương trình nghị sự của Quốc hội vẫn thường xuyên đề cập đến những biện pháp, gói cứu nguy cho bất động sản!
Vì sao tiếng "kêu cứu" của người làm nông nghiệp không "rầm rộ" như lĩnh vực khác trong thời điểm đầy khó khăn, nguy nan? Phải chăng là do "Bộ trưởng hiền quá!", như nhận xét của đại biểu Ngân?
Nông nghiệp đang đi về đâu?
Ở Hà Lan, 1 ha đất nông nghiệp đem lại 40.000 USD/năm. Gần với nước ta là Đài Loan, mỗi ha hàng năm đạt 12.000 USD.
So sánh hiệu quả với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác về hiệu quả thì không khỏi khập khiễng. Song điều cần nói là một nền nông nghiệp cứ "giậm chận tại chỗ" và thụt lùi mãi về hiệu quả sản xuất thì không thể gọi là bình thường, nếu không nói là bất thường!
nông nghiệp, chất vấn quốc hội, được mùa mất giá, xuất khẩu lúa gạo, bộ trưởng Cao Đức Phát
Không chỉ cây lúa "chịu đời đắng cay"
Sau 1/4 thế kỷ trở lại ngôi vị, khả năng cạnh tranh của hạt gạo VN không những vẫn thua xa Thái Lan, mà còn thua luôn cả những "cường quốc" mới nổi như Ấn Độ, Myanmar. Và thua luôn cả gạo của Campuchia, quốc gia mới làm ra lúa gạo đủ ăn mấy năm nay!
Cũng sau 1/4 thế kỷ sản xuất gạo bán ra thế giới, ngoài thành tích sản lượng ngày càng tăng, VN vẫn chưa thật sự có được thị trường của mình. Chỉ cần một quốc gia nhỏ như Campuchia tham gia xuất khẩu cũng khiến cho sản phẩm của chúng ta điêu đứng, xiêu vẹo.
Những tiến bộ mới trong canh tác như cơ giới hóa, kỹ thuật, chăm sóc, v.v... đã giúp tăng năng suất. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất, bao trùm nhất là tổ chức sản xuất nền nông nghiệp hiện đại, kết nối với nhu cầu, thị trường của thế giới gần như chưa có kết quả đáng kể.
Những tiếng nói về cải cách, tổ chức lại nền Sản xuất nông nghiệp cũng "đến hẹn lại lên", như điệp khúc "được mùa mất giá", chỉ có tác dụng "thuốc an thần" tạm thời. Sau đó, đâu lại vào đấy!
Rõ ràng, vị tư lệnh của ngành Nông nghiệp không thể "hiền quá" như nhận xét của đại biểu Trần Hoàng Ngân! Bởi ông là người đứng mũi chịu sào cho số phận của gần 70% dân số là nông dân; của một ngành sản xuất nền tảng của nền kinh tế đất nước!
  • Duy Chiến

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

GỐM THỜI LÝ - TRẦN


http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=6433
Tia sáng 10:54-11/06/2013 

Gốm Lý-Trần của Đại Việt

Phan Cẩm Thượng

Đĩa gốm men ngọc thời Trần. Tư liệu: NAT
Gốm Lý - Trần đã trở thành khái niệm mỹ học, giống như thơ Đường, tranh Tống, nghĩa là nhắc đến nó là nhắc đến cái đẹp, mặc nhiên về giá trị của nó. Cho đến nay, vẫn chưa có phong cách gốm nào ở Việt Nam vượt qua được gốm Lý - Trần.

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá đông hoàng diện
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Thủa trẻ không từng hiểu sắc không
Ngày xuân tâm sự rối hoa lòng
Chúa xuân nay đã từng quen mặt
Chiếu cọ giường sư ngắm bóng hồng.

(Trần Nhân Tông)
Mặc dù đứng về mặt nghệ thuật người ta hay nhắc chung một từ là nghệ thuật Lý - Trần, nhưng đây là hai thời đại rất khác nhau, có xu hướng phát triển riêng biệt và mỗi thời đại kéo dài đến hai trăm năm, khoảng thời gian không nhỏ để có được những thay đổi căn bản. Nhà Lý (1009 – 1225) và nhà Trần (1226 – 1400) có lẽ với đặc điểm chung lớn nhất là đều lấy Phật giáo làm quốc đạo, và ít nhiều chung nhau phương thức sản xuất nông nghiệp khai thác lao động nông nô và nông dân. Số dân ít dao động từ một triệu thời Lý đến ba triệu vào cuối thời Trần cho phép xây dựng một quốc gia quy mô nhỏ và thống nhất, đặc biệt là tạo ra một phong cách nghệ thuật toàn thể (phong cách phổ quát), nghĩa là cả nước chỉ có một phong cách nghệ thuật. Phong cách này thống nhất từ kiến trúc, điêu khắc, trang trí đến đồ gốm.

Nếu như kiến trúc và điêu khắc thời Lý - Trần còn chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Champa và không ít công trình có người Champa tham gia xây dựng, thì gốm Lý - Trần không có đặc điểm gì chung với gốm Champa, và có thể nói gốm Champa không có gì để so sánh với gốm Lý - Trần. Người Champa quan tâm không nhiều đến nghệ thuật gốm, gốm với họ cốt chỉ để đựng tạm thời.
Giữa gốm thời Lý và gốm sứ Đường Tống Trung Hoa có nhiều đặc điểm chung về thẩm mỹ và kỹ thuật, nhất là phong cách nghệ thuật Lý rất gần gũi với phong cách nghệ thuật Đường, trong khi đó gốm thời Trần là cái gì đó rất riêng biệt, đặc biệt là gốm hoa nâu. Ở Trung Hoa người ta không tìm thấy được cái gì tương tự. Thực ra thì gốm Lý - Trần cũng không rơi từ trên trời xuống và không phải phát triển từ mảnh đất tưởng chừng như trống không của thời Bắc thuộc. Các kỹ thuật gốm đất nung và gốm mộ Hán trước thời Lý cũng được thời Lý tiếp thu rất sáng tạo.

Theo các tài liệu truyền thuyết và lịch sử, cho đến thời Lý - Trần, gốm đã có ba trung tâm, mà còn tồn tại cho đến ngày nay, đó là làng gốm Bát Tràng, Phù Lãng và Thổ Hà, riêng làng Thổ Hà thì ngưng làm gốm đầu thế kỷ 20. Ba làng này do ba vị đại quan thời Lý - Trần là Đào Tiến Trí, Hứa Vĩnh Kiều và Lưu Phong Tú do đi sứ ở Trung Hoa học được nghề gốm mà truyền lại do dân làng. Bát Tràng thì sản xuất gốm sắc trắng, Thổ Hà gốm sắc đỏ, Phù Lãng gốm sắc vàng. Gốm sắc đỏ chính là đồ sành men nâu và đồ sành đất nung thô, gốm sắc vàng chính là gốm sành men da lươn. Riêng gốm sắc trắng chính là gốm men trắng và men trắng vẽ hoa lam của Bát Tràng. Loại gốm vẽ hoa lam xuất hiện nhiều vào thời Trần và được nâng thành đỉnh cao ở thời Lê sơ thế kỷ 15.

Địa bàn có thể khảo cổ được của gốm Lý - Trần rất rộng, nhưng tập trung chủ yếu vào các tỉnh đồng bằng: Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa và Hà Nội. Đặc biệt trong các mộ chí vùng Mường xưa kia từ Lương Sơn hắt lên thị xã Hòa Bình cũng có nhiều gốm Lý - Trần chôn theo người chết. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thì làng Bát Tràng hằng năm sản xuất gốm, đem bán mối lợi rất to, điều đó chứng tỏ, gốm Lý - Trần là mặt hàng thương mại quan trọng của hai thời đại đó. Trên một cái đĩa men ngọc thời Lý ở bảo tàng Lịch sử Việt Nam có vòng chữ thành hình tròn: Tố xuất phù dung dạng thanh khí/ Mại mãi khách nhân giai phú quý (Sản xuất đĩa gốm men ngọc vẽ hoa phù dung/ Khách mua bán đều là người phú quý). Chiếc đĩa này cho biết một thông điệp về tình hình thương mại đồ gốm có vẻ phát đạt vào thời Lý và con người thời đó không chỉ dùng đồ gốm để ăn uống thông thường mà nhu cầu thưởng ngoạn vẻ đẹp của món đồ cũng hết sức quan trọng. Không có đồ gốm Lý - Trần nào mà không đẹp, dường như cái đẹp là nhu cầu rất phổ biến của thời này, một chiếc chậu mà chúng ta nâng niu yêu thích thì vào thời đó chắc chỉ để rửa chân mà thôi, những chiếc thạp hoa nâu lớn bây giờ là một tài sản đáng giá thì vào thời Trần nó chỉ có chức năng như chiếc tiểu cải táng thông thường của người Việt.

Gốm Lý - Trần dù rất sang trọng nhưng dường như không có sự phân biệt giữa Quan diêu và Dân diêu, cách thức phân biệt của người Trung Hoa về loại gốm sứ dành cho vua quan và cho dân thường, được chế tác và nung từ hai cơ sở khác nhau, chất lượng khác nhau hoàn toàn. Cũng theo Nguyễn Trãi, thì các lò gốm trong nước hằng năm chọn những món đồ tốt nhất dâng lên triều đình, như vậy về căn bản không có sự phân biệt hoàn toàn giữa gốm dân gian và gốm nội phủ (dành cho vua chúa quý tộc). Gốm Đại Việt chủ yếu phân biệt ở chất lượng của từng sản phẩm, đặc biệt là cách nung hàng loạt dùng viên sỏi kê lòng, nên từng cái bát, cái đĩa đều có dấu ấn của ba đến năm vệt sỏi giữa lòng, còn đĩa bát chất lượng hơn thì lòng trơn, nghĩa là không kê một chồng mà nung từng chiếc một. Khi khảo cổ học đào bởi di tích Hoàng thành Thăng Long, đã tìm được những chồng bát nung dính vào nhau, người ta cho rằng ngay trong thành cổ có những lò gốm và như vậy thì bát dùng thông thường của quý tộc cũng không nhất thiết là phải nung từng cái một.

Gốm trắng nổi lên là loại gốm phổ thông, nhưng rất tinh nhã của thời Lý. Chúng được làm với nghệ thuật bàn xoay rất cao, dáng vuốt to nhỏ chênh lệch ngay trong đồ gốm rất lớn, thành gốm rất mỏng chứng tỏ một trình độ tạo hình thành thạo. Hình dáng thường là các loại bát nở miệng, thắt lại rất nhỏ ở chân đáy; những chiếc âu đủ các loại các cỡ, cái thì giống như bát khất thực của nhà sư, cái thì rộng lòng như quả dưa lớn; những chiếc đĩa đựng cong thành; những chiếc ấm hình quả dưa có vòi và quai, nắp rất cân đối. Men bên ngoài thành gốm, có lẽ đương thời rất trắng, nay tìm được từ lòng đất lâu năm ngả thành mầu vàng nhạt hoặc vàng ngà, rất trong, bóng, và mỏng. Phần lớn các gốm trắng không có chút hoa văn nào, tự dáng hình và chất lượng men tạo ra vẻ đẹp của nó.

Gốm đen có một vẻ đẹp giản dị mà mạnh mẽ khác, thường đi với các loại đồ gia dụng loại nhỏ, những bát loe miệng có bôi mầu đen như nước mật, đặc biệt là những bát mầu đen có trang trí hoa văn chân chim. Những hoa văn này được in khéo tới mức, người ta có cảm tưởng người thợ dùng một cái chân chim ấn vào lòng bát, hay giống như một con chim đi qua lòng bát khi nó còn đang ở dạng đất ướt. Thực ra mầu đen của gốm đen là biến thể của gốm hoa nâu, các ôxít sắt dùng làm mầu vẽ có biến dạng mầu khá phong phú, tùy theo độ nung như thế nào.

Đỉnh cao của gốm Lý được xác định là gốm men ngọc, khái niệm chữ Hán gọi là Thanh khí (đồ men xanh), người phương Tây gọi là gốm Celadon. Đặc điểm của gốm men ngọc có mầu xanh ngọc bích và nhiều biến sắc của mầu xanh đó. Men ngọc tạo ra nhiều cảm giác thẩm mỹ trái ngược, men rất trong nhưng nhìn thì rất đục, thành gốm dày nặng nhưng cảm giác rất mỏng nhẹ, hoa văn chìm (ám họa) nhưng nhìn rất nổi và tiếng gõ nghe trong trẻo như tiếng ngọc. Tất nhiên từ gốm men ngọc đến sứ men ngọc có một khoảng cách lớn về các giá trị thẩm mỹ khác nhau. Giữa gốm men trắng và gốm men ngọc có mối quan hệ qua lại mật thiết và vô số sản phẩm trung gian hình thành.

Con người thời Lý rất sang trọng, đồ đạc của họ nói lên điều đó. Chúng ta không biết người thời Lý ăn những món gì, nhưng đồ đựng của các món ăn cho thấy họ có cuộc sống lịch thiệp quý phái, có sự tinh tế mà đơn giản. Những chiếc bát hình bông hoa sen, hoa súng được chuốt các lớp cánh hoa nổi nhẹ lên thành gốm, miệng lượn cong hoặc trổ khuyết nhẹ từng điểm cách đều nhau, cầm cái bát trên tay mà như hứng một đóa hoa đang nở. Những chiếc ấm men trắng và hoa nâu thời Lý vừa đúng công dụng tùy từng kích cỡ, vừa đẹp mỹ mãn. Có những chiếc ấm tu chỉ nhỏ như quả quít, tức là người ta dùng cái ấm đó để uống luôn chứ không cần rót nước ra chén. Những chiếc ấm pha trà, đựng rượu có thể tích lớn như quả dưa bở hình khối rất nở nang, chân thắt nhỏ lại miệng loe cao và vòi nhỏ như một núm nổi trên thành mặt cong. Lại có cả những đồ đựng chiêu rượu hình con vẹt, hình tiên nữ đầu người mình chim (con Kinnari), mà lại có cả một đôi đực cái. Đồ đựng phấn là một chiếc hộp hai nửa chạm nổi cánh sen bên trong trổ hoa cúc dây, các quý cô quý bà sẽ nhón chút phấn hoa từ đó mà thoa lên má… Chỉ có những xã hội phát triển có tính tổ chức cao, lấy đạo Phật di dưỡng tinh thần, mới có thể sinh ra được những sản phẩm phổ biến và đặc trưng như vậy. Trong xã hội đó không có chỗ cho sự phàm ăn tục uống, sự nhỏ nhen và tỵ hiềm, một xã hội có vẻ rất bình an và đi tới bình an.

Xã hội Lý và xã hội Trần có nhiều vấn đề cách biệt, nhất là khi nhà Trần phải ba lần vất vả chống Nguyên Mông, một thế lực hùng mạnh trên thế giới lúc bấy giờ. Nhà Trần phải giải quyết nhiều mặt về tinh thần xã hội đối với sự thay đổi của Phật giáo sao cho thích hợp với thời cuộc, và giữ sự cân bằng cho đời sống dân sinh. Cái không khí hùng tráng của những trận đánh chống Nguyên Mông tạo ra âm hưởng cho nhiều nghệ thuật và văn thơ, trong đó có gốm. Gốm thời Trần bớt đi vẻ tinh nhã của gốm Lý, thay vào đó là sự bề thế, mạnh mẽ, cái đẹp của trí lực. Những chiếc bát chân cao cho thấy người cầm nó cũng cần phải khỏe tay, những chiếc thạp gốm khắc hình hoa sen và bôi mầu nâu với hình khối lớn kết hợp hình dáng hoa quả và hoa sen, trở nên độc đáo không thời nào có được. Gốm hoa nâu thời Trần có vẻ gần gũi với nghệ thuật tạo hình hơn là đồ gốm có công năng.

Tục hỏa táng và cải táng có lẽ phổ biến trong tang ma của người Việt thời Trần. Cải táng mang tính truyền thống của dân Việt cổ, và hỏa táng do ảnh hưởng của Phật giáo từ Ấn Độ. Những chiếc thạp gốm lớn chính là một đồ vật dùng trong nghi lễ cải táng, nghĩa là sau khi bốc mộ, hoặc thiêu, thì cốt hay tro hài của người chết sẽ được đựng trong những chiếc thạp. Đôi khi người ta làm hai cái thạp lồng vào nhau, cái to đựng cái bé, cái bé đựng di hài. Những chiếc tháp kép được làm rất cầu kỳ: một tiêu bản của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cho thấy thạp nhỏ được nung trước (nung tới đâu, còn chưa biết), sau đó đặt thạp nhỏ vào trong thạp lớn chưa nung, rồi nung cả hai. Quá trình nung cả hai như vậy đôi khi hai sản phẩm co ngót khác nhau và làm hỏng cả hai. Đây là một kỹ thuật khá cao. Cốt gốm hoa nâu đương nhiên rất dày so với gốm trắng và gốm men ngọc, và với nhiều đồ đựng lớn, gốm hoa nâu được cấu tạo nhiều phần lắp ghép: nắp – miệng – vai – thân – chân đế. Xu hướng sản xuất chuyên nghiệp và tạo hình đơn giản quán xuyến nền gốm thời Trần.

Trong cốt gốm Lý - Trần thành phần gồm cao lanh và đất sét, hàm lượng cao lanh chỉ chiếm 50% đến 60%; khi nung ra, mầu của đất khá xám chứ không được trắng như gốm Trung Quốc (mỏ cao lanh nằm ở Giang Tây, được coi có chất lượng tốt nhất thế giới, đến mức chẳng cần bất kỳ một máy móc nào để khử từ - loại bỏ các nguyên tố sắt trong đất cả). Mỏ đất sét trắng ở Việt Nam cho loại cao lanh trung bình, và có ở mỏ Trúc Thôn (Hải Dương), Giếng Đáy (Quảng Ninh). Về chất lượng cao lanh như vậy, gốm Đại Việt không tài nào nâng lên thành đồ sứ được cả. Muốn nung thành đồ sứ, trong nguyên liệu phải có đá bạch đôn tử, theo như Vương Hồng Sển, trong cuốn Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa, tỷ lệ pha trộn là 75% cao lanh, 25% bạch đôn tử. Cốt gốm Lý - Trần cũng được pha thêm bã thực vật, sau khi thành phẩm, cốt tương đối xốp và nhẹ. Người ta cho rằng do đặc điểm của cốt gốm không bạch đôn tử như vậy, nhiệt độ nung của gốm Lý - Trần chỉ đạt tối đa là 1.200 độ C, nên lò nung nhiệt cao là không cần thiết, nếu cốt gốm đó mà nung trên 1.270 độ C thì cấu trúc dễ vỡ hoặc giòn quắt, hoặc tự vỡ. Theo phán đoán thì nhiệt độ nung của gốm Lý - Trần đạt từ 1.100 độ - 1200 độ C.

Men trắng gốm Lý - Trần được chế từ phù sa và tro củi; men nâu từ oxit sắt và sunfua thủy ngân; men ngọc từ oxit sắt và oxit đồng. Trên gốm hoa nâu, người ta thường gạt đi một số chỗ men trắng để bôi mầu nâu, có thể làm theo hai cách: nền trắng hoa văn nâu, hoặc ngược lại nền nâu hoa văn trắng. Mầu nâu chế tạo từ đá son, bản chất của mầu nâu đỏ và đen chế từ các oxit sắt và một thành phần nữa là sunfua thủy ngân, cái này nằm trong đá chu sa, thần sa. Mầu đen cũng chỉ là biến thể của mầu nâu. Mầu lục của gốm men ngọc do sự tham gia của oxit đồng, nhưng ít hơn nhiều so với sử dụng oxit sắt và oxit đồng tạo ra mầu xanh khi nung trong môi trường oxy, thực chất là oxit sắt được nung trong môi trường khử, tức là môi trường thiếu oxy, tạo ra lửa hoàn nguyên. Công thức thì đơn giản như vậy, nhưng gốm luôn luôn là bí ẩn, phụ thuộc vào nhiệt độ lò nung tạo ra các phả ứng hóa học cụ thể với cốt và men gốm, cùng kinh nghiệm của người thợ. Kết quả của sản xuất gốm thủ công không lần nào giống lần nào, chỉ có thể tạo ra các sản phẩm tương tự chứ không lặp lại chính xác như gốm sứ công nghiệp. Các sắc độ mầu trên đồ gốm Lý - Trần, ra rất phong phú, nhìn thoáng qua thì thấy giống nhau, nhưng đặt cạnh từng đồ, mầu sắc rất khác. Mầu men ngọc biến đổi từ xanh ngọc bích, xanh lục nhạt, lục sẫm, lục vàng, lục tím, tím xanh thẫm. Mầu trắng cũng biến đổi vô cùng, trắng, trắng nhờ nhờ, trắng ngả vàng, trắng ngả xanh nhạt, trắng vàng, vàng và vàng sẫm. Mầu nâu có từ nâu đỏ, nâu vàng, nâu nhạt, nâu đậm, mầu nâu bánh mật, nâu sẫm, nâu rất sẫm, nâu đen và đen.

Hiện nay nhiều người đã mày mò trở lại phục chế gốm Lý - Trần và cũng đạt đến những hiệu quả nhất định, nhất là trong lĩnh vực gốm hoa nâu. Với gốm men ngọc, sản phẩm phục chế còn rất vụng dại. Gốm trắng và gốm đen tưởng là dễ nhưng lại khó phục chế nhất. Riêng cái tinh thần, sự cao nhã mà thô phác của gốm Lý - Trần thì con người hiện nay không có cách gì trở lại được. Nó sinh ra từ hai thời đại khởi đầu của nền độc lập dân tộc, từ sự thông tuệ và từ bi Phật giáo, sự hào sảng của những cuộc chiến chống ngoại xâm… - tất cả những yếu tố xã hội đó mới quyết định giá trị thẩm mỹ của một đồ gốm Lý - Trần rồi mới đến những vấn đề kỹ thuật.