Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Trần Mai Châu: làm thơ, dịch thơ và bàn về thơ


Huỳnh Như Phương
Nếu văn chương là bản mệnh đeo đuổi một con người, thì nó sẽ gõ cửa số phận không chỉ một lần, bởi nó tin rằng người được gọi sẽ góp phần làm nên công tích. Trần Mai Châu là một người được gọi dù con đường văn học của ông không ít gian nan, trắc trở.
Đầu thai nhằm lúc sao mờ
Nguyên quán Hà Nội, Trần Mai Châu sinh năm 1924 tại Sơn La, nơi thân sinh ông lên nhận nhiệm sở sau khi tốt nghiệp y sĩ Đông dương tại Trường Cao đẳng Y dược Hà Nội. Trong những năm đi học, Trần Mai Châu bắt đầu làm thơ. Hơn 200 bài thơ hoà vào mạch thơ lãng mạn đương thời mà tác giả đã sẵn sàng quên đi không nuối tiếc, vẫn còn những vần thơ giữ lại cảm hứng và tình điệu tuổi trẻ, chẳng hạn bài Em đến mùa xanh được ghi lại nguyên văn dưới đây:
                       Em đến mùa xanh lạnh đã lâu
                       Trang thơ chưa đẹp giấc mơ đầu
                       Đêm hoàng lương ấy khôn chung mộng
                       Ba bốn năm trời lỗi hẹn nhau.
                       
                       Ngàn thương em đến rồi sao
                       Vầng trán xuân nào băng tuyết
                       Ngàn thương thức tỉnh rồi sao
                       Sao bỗng chào thưa thân thiết.
                       
                       Em ơi chuyện cũ vui buồn
                       Đừng có bao giờ kể lại
                       Mây vàng đã bỏ lầu son
                       Nước cũng qua cầu trôi mãi.
                      
                       Sương xuống đầy song gió thổi
                       Trăng tà về sáng ngàn dâu
                       Có sáng đời anh tăm tối
                       Từ khi em bước chân vào?

                       Mỏi nhớ mòn thương chẳng trách nhau
                       Không dưng em đẹp đến u sầu
                       Hoàng lương tỉnh giấc thiên thu lạnh
                       Biền biệt mùa xanh đôi mắt nâu.
Bài thơ này được sáng tác năm 1944, vào lúc hậu kỳ Thơ Mới, cho nên tác giả cũng dự cảm một sự thay đổi nào đó cần thiết cho thơ ca. Như một run rủi của số phận, trong thời gian đó, Trần Mai Châu làm quen với Trần Dần, Vũ Hoàng Địch và cả ba cùng hợp tác xuất bản một tờ báo văn học. Tập thơ Một mùa địa ngục (Une saison en enfer) của A. Rimbaud gợi cảm hứng cho họ đặt tên tờ báo làDạ đài, phát hành đúng một tháng trước ngày Toàn quốc kháng chiến. Tờ báo mỏng chỉ có bảy trang, ghi rõ ở trang bìa:
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ – NĂM THỨ HAI
DẠ – ĐÀI
tuần báo văn chương ra ngày thứ bảy
                 Số 1        Chủ bút:                    Vũ Hoàng Địch
              16-11-46    Chủ nhiệm, Quản lý: Trần Mai Châu
                                 Báo quán: 30, Bùi Quang Trinh, Hà Nội
             Điều thú vị là chính ông Lưu Văn Lợi, lúc đó làm giám đốc Nha Báo chí, đã ký giấy phép cho xuất bản Dạ đài.
Nằm ở trang bìa, chiếm gần nửa số trang báo là Bản tuyên ngôn tượng trưng mà ba người cùng ký tên, do Trần Dần chấp bút với sự góp ý của Trần Mai Châu và Vũ Hoàng Địch. Có thể nói những tích tụ của yếu tố tượng trưng trong thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đoàn Phú Tứ… đã chuẩn bị cho sự xuất hiện đầy tự tin này, như lời tự giới thiệu ngay từ đầu bản tuyên ngôn:
             “Chúng tôi – một đoàn thất thổ – đã đầu thai nhằm lúc sao mờ.
             Cho nên buổi chúng tôi xuất hiện, chúng tôi để cho tàn suy giấc mơ của những người thuở trước.
             Sụp đổ: lâu đài phong nguyệt; và mai một: ý tứ những thi nhân mò ánh trăng mà thác.
             Chúng tôi không còn khóc – không còn muốn khóc – vì người ta đã khóc mãi ái tình, công danh và thế sự.
             Chúng tôi không còn nhìn mây – không còn muốn nhìn mây – vì người ta đã nhìn mãi mây chiều cùng nắng sớm.
Chúng tôi đã gào thét những đêm thâu, đã rên la những ngày dài dằng dặc. Chúng tôi đã nhìn lên Tinh đẩu, đã nhìn xuống Thế nhân. Chúng tôi đã về giữa non sâu để trở lại những bình nguyên hoang lạnh. Chúng tôi đã sống, sống hết cả những hình thức dương trần, đã đau khổ hết cả những mối sầu vui nhân loại”.
Bản tuyên ngôn đầy chất thơ đã không ngần ngại đối thoại và tranh luận một cách tinh tế với quan niệm thơ lãng mạn thịnh hành suốt hai thập niên trước đó:
“Vả lại, làm sao người ta cứ lăn lộn mãi trong mối thất tình eo hẹp? Làm sao người ta cứ khóc mãi, than mãi, rung động mãi theo những con đường rung động cũ? Làm sao người ta cứ nhìn mãi vũ trụ ở ba chiều và thu hẹp tâm tư ở bảy giây tình cảm? Chúng ta còn có nghèo nàn thế nữa đâu? Chúng ta đã mang nặng: – những thế hệ tàn vong – những triều đình đổ nát – trăm nghìn lớp phế hưng. Chúng ta đã thâm cảm: – những trời sao vằng vặc – những sự vật điêu tàn – sự mòn mỏi của ngày đêm liên tục. Biết bao nhiêu chuyện tang điền đã xao động tấm hình hài nhân thế! Biết bao nhiêu thế kỷ đã trầm tư! Biết bao nhiêu núi lở non tàn đã bắt buộc chúng ta phải sầu thương, chúng ta phải trở lại chúng ta mà tư tưởng! Chúng ta đã suy nghĩ nhiều rồi, chúng ta đã suy nghĩ quá nhiều rồi ở một Con đường Tuyệt vọng”.
Không bằng lòng với con đường mà thơ ca lãng mạn đã đi, những người tự khẳng định là thi sĩ tượng trưng ý thức về sứ mệnh của mình qua những lời hứa hẹn:
“Chúng tôi sẽ vén cao bức màn nhân ảnh, viết lên: – quỹ đạo của trăng sao – đường về trên cõi chết. Chúng tôi đã sống, lấn cả sang bờ bến u huyền, cho nên buổi chúng tôi quay về thế tục, chúng tôi nhìn hoa lá với những cặp mắt mờ hoen. Nhỡn tiền bỗng thấy thay đổi tất cả những hình sông, vóc núi. Chúng tôi lạ: lạ từng đám mây bay, từng bóng người qua lại – Chúng tôi lạ từ sắc nắng bình minh đến mầu chiều vàng vọt. Chúng tôi lạ, lạ tất cả. Và chúng tôi đã thấy những cái gì người ta chẳng thấy. Chúng tôi đã thấy muôn nghìn thực tại ẩn sau cái thực tại cảm thâu bằng những năng khiếu nông gần. – Chúng tôi đã thấy: thế giới bên kia, những thế giới bên kia lẩn ngay trong đám bụi dương trần một giây phút có thể bừng lên như Thực Cảnh”.
Qua một đoạn văn như trên đây, ta có thể thấy những người viết tuyên ngôn muốn xa rời chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ XIX để đến với chủ nghĩa hiện đại thế kỷ XX, thâu tóm những quan niệm mới mẻ nhất: vai trò của trực giác và biểu tượng, nghệ thuật như là phương thức lạ hoá, sự bừng ngộ về cõi siêu thực như là sự thức nhận sâu sắc hơn về cõi thực.
Khi xuất hiện vào đầu thập niên 30 thế kỷ trước, thơ lãng mạn Việt Nam cũng đã có chỗ dựa ở những phát ngôn lý thuyết của Lưu Trọng Lư, Phan Khôi, Nguyễn Thị Kiêm..; nhưng yếu tố quyết định chiến thắng của nó chính là những bài thơ giàu năng lượng nghệ thuật và sức lan toả. Giờ đây cũng vậy, thơ tượng trưng Việt Nammuốn thay thế thơ lãng mạn thì không thể chỉ bằng tuyên ngôn thuần lý mà chủ yếu phải chinh phục bằng chính sáng tác. Điều này cũng giống như Manifeste du Symbolisme của Jean Moréas không thể thay cho sáng tác của Baudelaire, Rimbaud, Verlaine, Mallarmé…
Hiểu vậy cho nên ngay sau Bản tuyên ngôn tượng trưng, Dạ đài đã in sáu bài thơ của Trần Dần, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Nguyễn Văn Tậu (một bút danh của chính Trần Mai Châu) như là những lời hô ứng cho bản tuyên ngôn. Chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, cảm hứng lãng mạn của thi nhân đã chuyển đổi thành cảm hứng tượng trưng pha màu siêu thực, như có thể thấy qua bài thơ Theo bóng tử thần của Trần Mai Châu:
                             Thế kỷ ta rung ánh lửa thần
                             Hoa vàng nghiêng mặc áo Siêu nhân
                             Trăng ơi! Trở lại đêm tàn sát
                             Này ánh tà dương khóc Bạo Tần

                             Em có buồn không, giờ tử nạn
                             Ta cười ghi lại nét phù vân
                             Nửa đêm sao biếc về trong Mộ
                             Mừng cuộc hồi sinh hiện giữa trần…
Đọc bài thơ này, Lại Nguyên Ân cảm nhận rằng tác giả “về tiềm năng vốn hứa hẹn những bung phá theo hướng văn nghệ tiên phong”.Dạ đài còn rao trước số tiếp theo sẽ tăng lên 12 trang, với những tiểu luận Hiệu triệu các nghệ sĩ của Trần Mai Châu, Toà án tượng trưng: cái nhầm Xuân Diệu của Trần Dần và sáng tác của những cây bút mới. Nhưng cuộc kháng chiến đã bùng nổ, mọi thể nghiệm nghệ thuật đều phải xếp lại. Trần Mai Châu cùng Trần Dần, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch… giã từ Hà Nội, giã từ giấc mộng văn chương thời tuổi trẻ.
Khối tình mang xuống… Dạ đài chưa tan
Đằng sau ảo vọng của tuổi trẻ, Dạ đài không giấu được một khối tình lớn với thơ ca. Dạ đài, cái tên như vận vào số kiếp, là ngọn nến bùng lên cuối một thời thơ nhiều hứng khởi và bứt phá. Ngọn nến đó sớm tắt vì hoàn cảnh không cho phép “dung hợp được thực và hư bằng hình tượng”.
Thời kháng chiến, Trần Mai Châu lập gia đình và sống ở Thái Bình. Gánh nặng trách nhiệm với gia đình nhỏ buộc ông trở về Hà Nội năm 1952 và vàoNamnăm 1954, để lại một người con trai ở miền Bắc. Trong khi đó, song thân và gia đình lớn của ông tham gia trọn hai cuộc kháng chiến, cho đến ngày cả nhà đoàn tụ sau 1975.
Vào Sài Gòn, Trần Mai Châu ghi danh học Đại học Văn khoa, tốt nghiệp cử nhân Pháp văn năm 1962, ra trường dạy ngoại ngữ và có hơn muời năm làm hiệu trưởng trường trung học tổng hợp Lý Thường Kiệt ở Hóc Môn, Gia Định. Sau năm 1975, ông chuyển về dạy học ở trường trung học cơ sở Hà Huy Tập, Bình Thạnh, cho đến khi nghỉ hưu (mà không có lương hưu) vào tuổi lục tuần.
Với Trần Mai Châu, gần 40 năm, vì chiến tranh, vì nợ áo cơm, giấc mộng Dạ đài chôn vùi trong quên lãng, những tuyên ngôn và sáng tác cũng nằm sâu trong ngăn kéo. Gặp lại những người bạn cũ thời Dạ đài, Trần Mai Châu chắc cũng nhận ra văn chương đã khiến không ít người tơi tả. Nhưng có lẽ khát vọng thơ ca vẫn âm ỉ ở một góc nào đó của tâm hồn văn nhân, chỉ chờ dịp bùng cháy trở lại.
Trong những ngày hưu trí rảnh rỗi, Trần Mai Châu đã nhận lời dịch một số tiểu thuyết cho các nhà xuất bản ở An Giang và TP Hồ Chí Minh. Nhưng những tác phẩm không thôi ám ảnh tâm hồn ông lại là những bài thơ Pháp thế kỷ XIX mà ông thuộc làu từ thời đi học ở Hà Nội và Sài Gòn. Ông tin mình có thể chuyển ngữ thành công những bài thơ đó sang tiếng Việt. Có lần ông tâm sự với Phan Phú Yên, tức nhà thơ Phan Hoàng: “Tôi thấy người dịch thơ Pháp phải hết sức cố gắng để xứng đáng một phần nào với những tác giả nổi tiếng. Ta phải cung cấp cho độc giả những bài thơ thực sự là thơ Việt Nam và khi đọc mọi người không có cảm tưởng là đang đọc một bài thơ dịch (…) Những bài thơ mình dịch là những bài thơ hay nhất của một thi sĩ ngoại quốc nổi tiếng, nếu mình đưa ra những bản dịch tầm thường thì phản bội lại họ. Điều quan trọng nhất của một bản dịch là phải hay”. (Phan Phú Yên, “Đường một thuở trăng xanh”, Kinh tế nông thôn cuối tuần, số 27, ngày 10-7-2004).
 Trả lời nhà phê bình Thuỵ Khuê trên đài RFI ngày 04-12-1999, Trần Mai Châu cũng nói rõ quan niệm của mình về dịch thơ: “Quan điểm dịch thơ của tôi là phải cố gắng dịch đúng và hay. Bài thơ dịch phải là một bài thơ Việt thực sự. Nhưng muốn vừa đúng vừa hay thì nhiều khi phải cân nhắc. (…) Đi vào cụ thể thì tôi thấy tình ý bài thơ đã có sẵn, vấn đề chỉ còn là kỹ thuật, là diễn đạt. Nhưng tình ý là tình ý của tác giả nguyên tác, nếu không thấy rung động thực sự vì những tình ý đó, không cảm thấy những tình ý đó cũng là tình ý của mình thì không diễn tả hay được”.
Nhờ tài nghệ của Trần Mai Châu, hồn thơ Pháp hoà điệu với tiếng Việt giản dị và tinh tế, qua những câu thơ năm chữ:
                                 Nắng đã tắt từ lâu
                                 Tôi ngồi bên cửa lớn
                                 Nhìn chút ngày ngả muộn
                                 Sáng ánh lửa cần lao.
                                               (Hugo: Chiều, mùa gieo hạt)
hay những câu thơ tám chữ:
                                 Đêm tăm tối nhưng vẫn còn leo lét
                                 Ánh trăng mờ ở tận tít mù xa
                                 Giữa trần thế một linh hồn thân thiết
                                 Hiểu tình ta và sẽ trả lời ta.
                                               (Lamartine: Thu)
                        
 Trần Mai Châu đã dự cảm đúng về thành công của ông trên lĩnh vực dịch thơ. Cuốn Thơ Pháp thế kỷ XIX (NXB Trẻ, 1996) do ông tuyển dịch, lược khảo, bình chú đã được dư luận hồi đáp tích cực, được tặng thuởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1997 và nay đã in đến lần thứ ba. Có thể mượn lời của James Mc Gowan, người dịch Les Fleurs du Mal của Baudelaire sang tiếng Anh, để nói về những dịch giả thành công, trong đó có Trần Mai Châu: “Tôi hoạt động như một nhà thơ khi thực hiện những bản dịch của tôi, và như một nhà thơ, tôi hy vọng phục vụ cả Baudelaire lẫn người đọc hiện đại”. Dường như nhà thơ Trần Mai Châu thời Dạ đài đã sống lại trong kích thước mới của những bản dịch này. Điều khiến ông đắc ý nhất là hầu hết những bài thơ dịch đó, nhờ nhạc điệu, đều có thể được ngâm lên chẳng khác nào những bài thơ Việt.
 Việc tích lũy kinh nghiệm đọc thơ, làm thơ và dịch thơ dẫn đến nhu cầu bàn luận về thơ bằng ngôn ngữ chính luận. Ở tuổi ngoài 80, Trần Mai Châu biên soạn công trình Thơ – nhận định và thưởng thức (NXB Văn hoá Sài Gòn, 2008; NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh tái bản, 2011) như một sự đúc kết lý thuyết về thơ. Từ việc đi tìm đặc trưng của thơ, tác giả lý giải mối quan hệ giữa thơ và văn xuôi, thơ và nhạc, thơ và thi hứng, thơ và hình ảnh, tưởng tượng, thơ và tường thuật, mô tả. Cuốn sách trở thành một tài liệu thi học khi tác giả trình bày vừa cặn kẽ, vừa khúc chiết những hình thái tu từ của thơ và các thể thơ quen thuộc của dân tộc. Là người được đào tạo trong môi trường Tây học, tác giả tỏ ra rất am hiểu đặc trưng nghệ thuật và tiến trình thơ ca Pháp thế kỷ XIX – XX. Đọc cuốn sách này, ta còn hiểu được nhận định và chủ kiến của ông về một số nhà thơ hiện đại, về tác dụng của thơ cũng như về giá trị của một số bài thơ hay. Là một nhà biên khảo chừng mực và lão thực, Trần Mai Châu lắng nghe, ghi nhận và tiếp thu ý kiến của nhiều người thuộc nhiều thế hệ bàn về thơ. Chỉ tiếc là đôi khi ông trích dẫn hơi dài dòng một số ý kiến không thật tiêu biểu và sâu sắc.
Lại Nguyên Ân đã nhận xét xác đáng về Thơ – nhận định và thưởng thức của Trần Mai Châu: “Đây là câu chuyện của một người rất yêu thơ. Ông giãi bày tình yêu ấy bằng một sự hiểu biết được tích luỹ khá súc tích của mình về nó. Ông đã gắng trình bầy nó đưới các dạng tri thức, song người ta thấy chỗ mạnh nhất ở ông là sự trải nghiệm, là kinh nghiệm tiếp xúc với thơ của ông, với tư cách người thưởng thức thơ và người dịch thơ”. Lại Nguyên Ân cũng có lý khi cho rằng cuốn sách này “không thực sự là một chuyên luận, mà vẫn thuộc loại sách tập hợp, tức là sách được tổ hợp lại từ một số bài viết, mang một số nội dung khác nhau, tuy giữa chúng có sự gần gũi nào đó, nhưng không gắn bó hữu cơ với nhau”. (Lại Nguyên Ân, “Trần Mai Châu – duyên nợ với thơ”, Thể thao Văn hoá, ngày 31-5-2008).
 Thật ra, theo chúng tôi được biết, Trần Mai Châu có chủ định viết cuốn này như một chuyên khảo về thơ. Nhưng do điều kiện sức khoẻ và nhất là do cách viết thiên về “thưởng thức”, có tính nghệ sĩ, nên công trình của ông, “tuy có chia thành các chương, mục, song tính hệ thống của chúng khá lỏng lẻo, nhiều chỗ giống như những trang bút ký hay tuỳ bút về thơ”, như Trần Thanh Đạm đã chỉ ra và đi đến nhận xét thoả đáng: “Tóm lại, tôi cho rằng tập sách của Trần Mai Châu thuộc một thể loại mà các nhà phê bình thơ ở Việt Nam và Trung Quốc xưa nay từng viết, đó là thi thoại (nói chuyện về thơ)”. (Trần Thanh Đạm, Những trang sách về thơ của nhà thơ, nhà giáo lão thành Trần Mai Châu, Giáo dục TP. Hồ Chí Minh, ngày 11-8-2008).
 Trong tinh thần đó, có thể nói Thơ – nhận định và thưởng thức là một công tích nữa của Trần Mai Châu, với tư cách một người làm văn học và một nhà giáo, đóng góp vào tủ sách những người yêu thơ ở một đất nước có truyền thống sáng tạo và bình luận thi ca.
Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn.
Copyright © 2012 - PHÊ BÌNH VĂN HỌC

(Vĩnh Thuận sưu tầm - Ngọc hà - 8/8/2012)


VIỆT PHƯƠNG BÀN VỀ THƠ


Vai trò của tưởng tượng trong thơ




(Toquoc)- Không phải ngẫu nhiên mà Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh được giới văn học trân trọng đến thế. Sự thật là tiềm lực lí luận văn học tiếp thu từ phương Tây thời đó đã được các học giả ngày nay nhận diện, đánh giá và phần nào vượt qua. Từng khuynh hướng, từng hiện tượng riêng lẻ đã được nhận diện rồi ứng chiếu lại trong mối tương quan với tổng thể để định danh những sáng tạo, định lượng những kết tinh. Vậy mà, trường tồn cùng năm tháng vẫn là những dòng trực cảm của ông:
“Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hoá phương Tây, cái mầm sau này sẽ nảy thành thơ mới”
(Một thời đại trong thi ca)
Phải chăng, nhờ vào sự tưởng tượng độc đáo về mầm mống của cái tôi như thể con đường phát tán, di truyền mà gen sinh học đã giúp ông xác lập được một kỉ lục: Người nói về thơ một cách thơ nhất. Và, có lẽ, Hoài Thanh là người đầu tiên viết phê bình được các nhà văn thiện cảm. Ông đã xoá đi cái ác cảm của người sáng tác với những người duy lí, đứng ngoài lề mà soi xét những sinh thể nghệ thuật của họ được gọi là nhà phê bình. Sở dĩ làm được điều ấy là do Hoài Thanh đã đánh giá đúng mức vai trò của tưởng tượng trong thơ.

Cái lí của tưởng tượng
Không phải đợi đến khi hình thành một nền thơ hiện đại, thơ Việt Nam mới tạo ra sức gợi từ sự tưởng tượng. Các nhà thơ trung đại đã biết tạo ra những chiều kích để làm tăng sức gợi cho thơ.
Cầu Thệ thủy ngồi trơ cổ độ.
Quán Thu Phong đứng rũ tà huy
(Ôn Như Hầu)
Ai cũng biết “cổ độ” làm tăng thêm sự cổ kính, rêu phong cho chiếc cầu Thệ thuỷ ấy. Bóng “tà huy” gợi sự sầu muộn cho quán Phong Thu ấy. Hai biểu tượng một hiện thực, một ước lệ cứ soi chiếu, tương hỗ cho nhau, ảo mà thực, thực mà lung linh bởi ảo, tạo ra sức hấp dẫn của thi tứ.
Tuy nhiên, sự độc đáo ấy vẫn phụ thuộc vào một dạng chỉ định (hình ảnh của Hán từ quyết định đến biểu tượng của câu thơ tiếng Việt). Hơn nữa, đó cũng là một dạng “lối mòn” ước lệ, một dạng định hướng theo những chuẩn mực thẩm mĩ mà người xưa đã xác lập. Bởi thế, phải chờ đến thơ Mới, những câu thơ ấy mới được chắp thêm đôi cánh để được bay bổng:
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
(Bẽn lẽn - Hàn Mặc Tử)
Anh đi đấy, anh về đâu ?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…
(Cánh buồm nâu - Nguyễn Bính)
Những câu thơ đẹp nhất của nền thơ hiện đại cũng là những câu giàu sức gợi mà khó diễn tả. Người ta thường nói rằng chỉ cảm được mà không cất lời lí giải nổi:
Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)
Thế là, người vô tâm nhất với thi ca cũng phải ưu tư mà ngẫm: “nằm nghiêng nghiêng” ấy là thế nào mà Hoàng Cầm khéo tưởng tượng vậy?
Thực ra tưởng tượng là hoạt động tâm lí nhằm xây dựng các biểu tượng mới dựa trên các chất liệu đã có (biểu tượng cũ). Những biểu tượng mới chưa hề có. Cái mới đó vẫn làm người ta dễ dàng chấp nhận bởi tính thuyết phục. Nó hệt như một con diều bay bổng nhưng không mơ hồ bởi sợi dây hiện thực luôn bám vào mặt đất:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viếng lăng Bác - Viễn Phương)
Dù mặt trời như khối cầu lửa kia có mang dáng dấp con người (đi qua trên lăng) thì vẫn thuyết phục bởi lẽ: mặt trời có được nhân hoá, mang đặc tính người mới có thể nằm trong cùng hệ quy chiếu để so sánh với mặt trời nhân loại: Lãnh tụ Hồ Chí Minh.
 

Những hướng đi của tưởng tượng
Không có một biểu tượng hiện thực nào mang tính vĩnh cửu khi đặt trong chiều dài lịch sử của thời gian. Từ dải cầu vồng, nhật-nguyệt đến những ám ảnh nghệ thuật từ sự kì diệu của thiên nhiên ban tặng đều được khoa học khám phá, lí giải và phá vỡ bằng nhiều kỉ lục chân lí mới.
Thế nhưng, những gì có được nhờ vào sự tưởng tượng bằng một hồn thơ thì vẫn trường tồn, trẻ trung và khó lòng bị một chân lí khác phá vỡ. Hệt như người xưa đã từng nói:
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.
Quả thật, mỗi câu thơ hay xác lập một biểu tượng, một kỉ lục mà theo năm tháng được người ta nâng niu, đề cao hơn là phá vỡ. Chẳng thế mà khi nền khoa học phương Tây đã vén bức màn vũ trụ trong tâm thức người Á Đông mà nghe lời thở than của Tản Đà ai cũng phải siêu lòng: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế nay em chán nửa rồi. “Cung quế” và cõi mộng ấy mãi mãi là một sản phẩm vinh cửu mà nghệ thuật ban tặng cho con người.
Không dừng ở đấy, tưởng tượng còn là lối đi kín đáo giúp nhà thơ đi sâu khám phá những bí ẩn trong tâm hồn con người, mà thám hiểm thế giới nội cảm. Ngày trước người ta có thể nói về nỗi nhớ như là một vật hiện hữu có thể đo đếm, định lượng được dù là rất nhiều:
Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ.
Em thử quay xem được mấy vòng.
Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ.
Em thử lào xem được mấy thưng!
(Nhớ - Nguyễn Bính)
Nhưng với tâm hồn con người ngày nay nó phải được sánh với những gì trừu tượng, phá vỡ mọi đường viền, giới hạn:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương
(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Nỗi nhớ ấy đã ngấm vào máu thịt, mơ hồ nhưng hiện hữu như một thuộc tính của tự nhiên.
Sự tưởng tượng trong thơ là gì nếu như không phải là việc câu thơ ấy khiến ta bỏ qua hình ảnh thực mà hướng theo vệt sao băng ấy để nắm bắt những biểu tượng sau đó. Giới hạn cũ không bị bỏ qua, chúng luôn được soi chiếu để nhận ra sức sống mới của biểu tượng, từ đó biên độ cảm xúc được mở rộng giúp người đọc yêu thơ hơn mà thơ luôn mới, luôn là đỉnh cao đầy thách thức.
Việt Phương

(Vĩnh Thuận sưu tầm - Ngọc Hà  - 8/8/2012)

BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC QUA CÁC THỜI KỲ



http://dongson1.info/



Cách đây mấy năm, mình đi du lịch Trung Quốc. Trên đường đi, anh hướng dẫn viên người bản địa, nói tiếng Việt như ranh kể chuyện vui... Người Trung Quốc cho rằng đất nước họ hình con kê (gà). Nếu mất Tây Tạng thì con kê đó gầy như suy dinh dưỡng, nghèo đói là cái chắc. Xem ra toàn bộ cổ cánh và phần hậu màu mỡ đều là khu tự trị. Nào là Nội Mông, Hồi Ninh Hạ, Tây Tạng, Tân Cương...đã giúp có được Trung Quốc ngày nay. Tự trị Quảng Tây như quả trứng vàng dưới bụng no căng...Hihi...Lại lời người xưa, vùng ấy, mấy lị Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến hình như cùng với nước Việt làm thành cái đùi gà thơm phức, béo ngậy. Lí giải tại sao mấy nơi này hay có bạo loạn, xích mích khiến Bắc Kinh đau đầu. Sẽ còn bất ổn dài dài vì đó là đất đi cướp khi con người đã biết đến văn minh, hòa hiếu. Mình chả biết gì phong thủy nên không hiểu suy luận của người xưa về việc này? Gà suy dinh dưỡng thì biết thế nào rồi đấy...Nhìn tấm bản đồ TQ qua các thời kì thì thấy con gà đó được thay đổi da thịt từng thời kì cho đến lúc này thì đang có nguy cơ béo phì...Bệnh béo phì (theo y học hiện nay) còn khó chữa hơn cả suy dinh dưỡng. Thế mới khổ...
Nước Việt mình khác gì cái chân gà. Thêm Laos, Thailand, Camphuchia nữa thì con gà này có chân to quái dị luôn. Chả thế mà Mao chủ tịch muốn lấy hết mấy nước đó. Nhưng đến giờ con gà này vẫn không có chân. Thảo nào cứ hay bị nghiêng ngửa, chao đảo? Thảo nào mà chinh chiến liên miên để mong gà mọc chân? Vậy mà ở nước Việt những kẻ có quyền, có lực lại rắp tâm tự chặt chân dâng cho con gà đó. Phàm dùng chân khác thì lắp kiểu gì cũng không thể liền được, chỉ như đứng trên nạng. Chưa biết chừng đứng chả xong còn bị sụp bẹp tan thây...
Ngay trước mặt con gà có một cái ao lớn đầy nước và thức ăn. Lúc này gà đã ăn gần hết thóc dự trữ nó có, trong khi ao các nhà hàng xóm lại chứa tuyền những thức ăn ngon từ đáy ao lên đến mặt nước ngay trước mỏ gà, mà bảo gà nhịn không mổ, không uống nước sao được? Khổ thế...Mà phàm là gà thì có dạy dỗ, nói chuyện được không? Hay có bậc cao tăng, minh sư nào tụng kinh, giảng pháp trước khi giúp gà hóa kiếp làm người nhỉ?

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/c/cf/B%E1%BA%A3n_%C4%91%E1%BB%93_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_Trung_Qu%E1%BB%91c.png

Bản đồ Trung Quốc ngày nay.

PS: Có lần mình nghe ai nói, ở đảo Hải Nam vẫn còn làng người Việt lâu đời...Giá mà được đến đó tìm hiểu? Biết đâu có người đủ tài viết một tiểu thuyết nổi tiếng như "Cội rễ" nhỉ? Phải chăng nhóm người Việt đó là cư dân đầu tiên của hòn đảo này??? 

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

CHẠY VƯỢT RÀO 100m NỮ

(Vĩnh Thuận - Ngọc hà - 6/8/2012) Tuần nay liên tục xem kênh ESPN về Thế Vận Hội 2012 ở Luân Đôn. Copy được bài này, tưởng là của London 2012 té ra là giải VĐ trẻ TG ở Barcelona 2012, lưu lại để xem bước chạy của các kiều nữ:

http://www.youtube.com/watch?v=tMgmYutL9W0&feature=player_embedded

Màn khởi động "đáng yêu" của VĐV xinh đẹp “hớp hồn” cư dân mạng

(Dân trí) - Một nữ vận động viên trẻ tuổi và xinh đẹp người Úc đã trở thành ngôi sao trên Internet sau khi đoạn clip ghi lại màn khởi động làm nóng người của cô trước cuộc đua đã thu hút hơn 11,5 triệu lượt xem chỉ sau 5 ngày được đăng tải lên Youtube.

Để chuẩn bị cho vòng đua chạy vượt rào trong khuôn khổ Giải Vô địch trẻ thế giới 2012 diễn ra ở Barcelona (Tây Ban Nha), Michelle Jenneke, nữ vận động viên 19 tuổi người Úc đã có những động tác khởi động để làm nóng người, tuy nhiên những động tác này lại rất quyến rũ và không kém phần sexy, khi cô liên tục nhún nhảy, lắc hông…

Bên cạnh đó, nụ cười tươi tự tin luôn hiện diện trên gương mặt của Jenneke, cô cũng không quên những động tác vẫy tay chào khán giả trên khán đài.

Những động tác khởi động và nụ cười thường trực trên môi của Jenneke đã “hớp hồn” cư dân mạng
Những động tác khởi động và nụ cười thường trực trên môi của Jenneke đã “hớp hồn” cư dân mạng

Những hành động thú vị này của Jenneke đã lọt vào ống kính của máy quay và gây được sự chú ý của người xem sau khi được đăng tải lên Youtube, không chỉ bằng những động tác “nóng bỏng” mà bên cạnh đó là nụ cười và phong thái tự tin của cô gái trẻ.

Dường như sự tự tin này đã giúp ích không nhỏ cho cô khi Jenneke giành chiến thắng trong vòng đua vượt rào 100 mét.

Đoạn clip đã nhanh chóng thu hút được hơn 11,5 triệu lượt xem trên Youtube chỉ sau 5 ngày được đăng tải, trong khi đó Michelle Jenneke trở thành cái tên “hot” trên các tờ báo và tạp chí về thể thao. 

Nhiều người sau khi xem đoạn clip đã thừa nhận Michelle Jenneke có gì đó rất quyến rũ, khiến họ phải xem đi xem lại đoạn clip này. Trong khi đó không ít người đã nói đùa rằng đây chính là đoạn clip “nóng bỏng” nhất xuất hiện trên Youtube trong năm 2012.

Bài gốc tiếng Việt và đoạn clip màn khởi động thú vị của Michelle Jenneke:


http://dantri.com.vn/c119/s119-622433/man-khoi-dong-nong-bong-cua-vdv-xinh-dep-hop-hon-cu-dan-mang.htm

----------------------------------------------

Michelle Jenneke
From Wikipedia, the free encyclopedia

Michelle Jenneke
Personal information
Full name
Michelle Jenneke
Nickname(s)
Shelly
Nationality
Born
23 June 1993 (age 19)
Kenthurst, New South Wales
Sport
Country
Sport
Event(s)
Club
Cherrybrook Athletics Club
Team
Achievements and titles
World finals
·         2012 World Junior Championships:
100 metres hurdles – 5th place
·         2010 Summer Youth Olympics:
100 metres hurdles – Silver
Medley relay – 4th place
Medal record[hide]

Michelle "ShellyJenneke (born 23 June 1993) is an Australian hurdler who won a silver medal for the 100m hurdles at the2010 Summer Youth Olympics. She received worldwide media attention for her pre-race warm-up dancing.
Background
Jenneke was born in Kenthurst, New South Wales, Australia.[1] She attended The Hills Grammar School. In one interview, she described her hobbies as Australian rules footballsoccer and handball.[2]
Athletics
Jenneke has trained with coach Mick Zisti as a hurdler from the age of 10 at the Cherrybrook Athletics Club.[1][3] She competed at the Canberra hosted 2008 Pacific School Games in the 90 metre and 200 metre hurdles.[3][4]
In March 2010, Jenneke finished 1st in the 100m hurdles and broke the Australian record in the women's sprint medley relay at the 2010 Australian Junior Championships.[5] She competed in the 2011 Pirtek Athletic Allstars event.[6] In July 2010, Jenneke was in Australia's team at the 2010 Singapore Youth Olympic Games, running the 100 metres hurdles and the women's medley relay. In the hurdles, she came second with a time of 13.56 and setting a personal best after winning her heat, and the medley relay team came fourth.[7][8][9][10][11][12] Her medal was the first Australia won at the Games in athletics.[13]
In 2011, she competed at the New Zealand hosted Cooks Classic.[14] At the 2011 Australian Junior Championships, she had a first place hurdles finish in the under-20 group.[14] In April 2011 she competed at the 89th Australian Athletics Championshipsand finished third in the 100 metres hurdles behind world champion Sally Pearson.[15]
On 15 July 2012, Jenneke finished fifth in the 2012 IAAF World Junior Championships 100 metres hurdles.[16] After the competition, a video on her 100 metres hurdles time trial taken during the heats race, which was subsequently posted on a video sharing site, raised her profile around the world.[17][18]
Career highlights
§  1st place (100m hurdles) – 2010 Australian Junior Championships
§  1st place (4x100m medley relay) – 2010 Australian Junior Championships (Australian record)
§  2nd place (100m hurdles) – 2010 Summer Youth Olympics, Singapore
§  4th place (4x100m medley relay) – 2010 Summer Youth Olympics, Singapore
§  3rd place (100m hurdles) – 2011 Australian Championships
§  5th place – (100m hurdles) 2012 World Junior Championships in Athletics, Barcelona, Spain
Media coverage
In July 2012 videos of Jenneke dancing during her pre-race warmup before the 100-meter hurdles race at the 2012 World Junior Championships in Athletics in Barcelona were posted on YouTube[19]. One clip received 16 million views by the following week and was featured on the American late night talk show, The Tonight Show.[20]


Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

CHÚC MỪNG SINH NHẬT BÁC PHÁT




Hôm nay ngày 3 tháng 8 là Sinh Nhật của Lão Giáo sư Vĩnh Phát, con cụ Vĩnh Sinh - nhà giáo có công lập trường học đầu tiên của xã Nam Phong trong những ngày đầu tiên của nước VNDCCH non trẻ năm 1945, cháu cụ đồ Thiệu Đường - người có công khôi phục và lập Gia phả của dòng họ Nguyễn Văn ở làng Nam Phú, Hà Tây cũ.

Bác Phát là người đầu tiên đi học đại học và có bằng cử nhân trong nhà mình, vì lúc đó bác Bảo đang đi làm ở Cao Bằng và bác Mệnh đã đi xa. Bác Phát là "ông nghè" đầu tiên của dòng họ Nguyễn Văn và chắc cũng là tiến sĩ đầu tiên của làng Nam Phú.

Trong lịch sử, họ Nguyễn Văn chỉ có 2 cụ cử và dăm cụ tú. Ông nội Thiệu Đường đi thi nhiều lần cũng chỉ đỗ nhị trường, nản chí cụ về làng làm ông đồ dạy trẻ và bốc thuốc cho bà con lối xóm. Sau Cách mạng tháng Tám, người đầu tiên có bằng kỹ sư là  chú Ng. Vân Tiếp (con ông Nhiếp), nay ở Sài Gòn, và có lẽ bác Phát là người thứ hai của dòng họ Nguyễn Văn có trình độ cử nhân rồi kỹ sư (ĐH Tổng hợp HN 1969 và ĐH Hàng hải VN 1976) trong thời đại Hồ Chí Minh. Đến bây giờ tính trong họ nội tộc, cũng chỉ ở nhà ta mới có 3 tiến sĩ là bác Phát với chú Hùng và cháu Minh. Nói thế để thấy tội của tôi rất to, làm cụ Sinh và cụ Hỷ buồn phiền vì đã không làm xong nghiên cứu sinh để thêm rạng danh họ Nguyễn Văn của xứ Nam Phong Hà Tây.

Bác Phát đã là Nhà giáo ưu tú năm 1998 (có bài viết trong bộ sách "Chân dung các nhà giáo ưu tú Việt Nam", NXB Thanh niên, HN 1999) và được nhà nước phong Phó Giáo sư năm 2002. Lúc đó, cụ Sinh vui lắm. Trong nhà, cụ ưng ý nhất là bác Phát (còn chán nhất, không biết cụ chọn tôi hay chú Hùng đây nhỉ, hi hi?).



Bác Phát là người rất có ý chí, có lẽ chỉ sau cụ Sinh. Năm 1980, đang học để thi NCS ở Kim Liên nhà chú Rôm cô Bình, mẹ Kim mất, bác vẫn vững lòng ôn luyện để 1 tuần sau khi mẹ từ trần, bác vẫn thi đỗ đi Ba Lan làm tiến sĩ. Năm 2005, bị bệnh nặng, Bác kiên trì tập luyện cùng chế độ ăn kiêng, đến bây giờ sau 7 năm sức khỏe bác vẫn còn hơn ối người trong nhà mình (tuy năm nay vừa phải đặt thêm 2 stend ở tim). Tôi thì chịu, nếu bị như Bác chắc "lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân" từ lâu rồi.

Bác là người phát triển toàn diện. Tiếng Tàu tiếng Tây làu làu, gần đây sung mãn về thư pháp, cho mọi người nhiều chữ chơi Tết rất đẹp. Là dân kỹ thuật và toán, mà vẽ tranh phong cảnh ngang ngửa với các họa sỹ chính thống. Ngày học cấp 3 ở Trường Chu Văn An, Bác học đều các môn, luôn chỉ dẫn chị Đạt và tôi về cách học môn văn và làm văn. Sổ liên lạc của Bác tôi còn giữ, toàn điểm 5 chi chít (ngày xưa cấp 3 cho điểm cao nhất là điểm 5). Thể thao thì khỏi nói, Bác chịu khó tập tạ, tôi chỉ học mót tập ké theo Bác mà có "phom", sau này  các em mê tít. Thêu thì thôi rồi siêu thủ, suýt nữa cụ Hỷ bắt bác đi học Trường Mỹ thuật để sau này tiếp nối bàn tay vàng "nghệ nhân thêu" của cụ.

Thôi iem chẳng kể nữa, kẻo Bác lại bẩu "thằng iem cho bác lên mây".

Đặc biệt nhất, nhà Bác là "nhà giáo toàn tòng" (mượn từ của bên theo đạo Chúa): Ông nội và Ông ngoại cháu Minh là nhà giáo (nhà giáo làng tiểu học và nhà giáo sáng lập ngành Địa sư phạm VN) - Bác và bác Đoàn, người bạn đời lãng mạn cùng dạy 1 khoa 1 trường - Cháu Minh, tiến sĩ ở Ba Lan về đã công tác ở Trường Đại học Đại Nam. Đối với dòng họ, Bác đã "cung cấp" 1 tiến sĩ thế hệ nối tiếp là cháu Ng. Nguyên Minh, nối dài truyền thống hiếu học họ ta. 


Ngày sinh của lão giáo sư, cầu chúc Bác ung dung tự tại, vui khỏe cùng anh em và con cháu, lãng mạn tình già cùng Bác gái, hưởng phúc dài lâu.






Em: Vĩnh Thuận


(Ngọc hà - 3/8/2012)