Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

GS HOÀNG TỤY GÓP Ý VỀ GIÁO DỤC






Đề cương Cải cách giáo dục
Hoàng Tụy

Học sinh đón năm học mới (ảnh minh họa)
Đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.





Từ lâu giáo dục đã trở thành chỗ nghẽn lớn nhất trong sự phát triển của đất nước. Vì vậy cải cách giáo dục toàn diện và triệt để theo tinh thần các nghị quyết của TƯ là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống.

Sau đây là bản kiến nghị đề cương cải cách giáo dục phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong vài mươi năm tới. Bản đề cương gồm ba phần chính:
I.    Quan điểm tổng quát, cũng tức là triết lý cơ bản của giáo dục mới.
II.    Những vấn đề chính và cấp bách cần giải quyết.
III.     Lộ trình và tổ chức thực hiện.

I.    Quan điểm tổng quát
         Đây có thể coi là vấn đề của mọi vấn đề, nó là cái gốc chi phối từ sứ mạng, phương châm cho đến nội dung, phương pháp, tổ chức giáo dục.

Trong thế giới hiện đại, yêu cầu hội nhập quốc tế đặt ra ngày càng gay gắt cho mọi dân tộc, nếu ta chỉ muốn xây dựng giáo dục theo con đường riêng của mình, thì dù với những lý tưởng đẹp đẽ và dân khí rất cao như trong thời hoàng kim của cách mạng, sớm muộn chúng ta cũng không tránh khỏi bị đào thải trong cuộc cạnh tranh quốc tế quyết liệt. Huống hồ sau 1975 đất nước đã bước sang một giai đoạn lịch sử mới, có biết bao vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội phức tạp trước đây chưa bao giờ gặp. Hơn nữa sau khi giành được độc lập, thống nhất, ta xây dựng lại đất nước trong bối cảnh cả nhân loại chuyển lên nền văn minh trí tuệ. Nhiều cơ hội mới mở ra  từ đây cho những dân tộc giàu tiềm năng như chúng ta, đồng thời đất nước cũng đối mặt với những thách thức to lớn không dễ gì vượt qua nếu không đủ dũng khí chia tay với những tập quán, cách suy nghĩ, làm ăn, ứng xử, từng là nếp sống quen thuộc một thời.

Cho nên ngày nay hơn bao giờ hết, không gì cản trở sự tiến bộ của xã hội hơn thái độ đóng kín, thiếu cởi mở với cái mới, e ngại thay đổi, chủ quan tự mãn, không muốn, không dám nhìn thẳng vào những yếu kém của mình mà chỉ say sưa tự ru ngủ với quá khứ vẻ vang và tự dối mình bằng những thành tích tưởng tượng hoặc giả tạo.

Có thể nói đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn còn giữ khá nhiều quan niệm cổ hủ thời phong kiến nho giáo, thậm chí thời trung cổ Châu Âu. Nặng tính giáo điều kinh kệ, nhằm biến con người thành một phương tiện – dù là phương tiện để thực hiện những lý tưởng cao quý – hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Đã đến lúc cần nhìn thẳng vào thực tế để nhận rõ những hệ luỵ tiêu cực của tình hình đó đối với tương lai dất nước. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng cứ áp đặt một ý thức hệ định sẵn vào nội dung và phương pháp giáo dục thì sẽ đào tạo được những con người khuôn theo ý thức hệ đó. Kinh nghiệm thực tế khắp nơi trên thế giới đều cho thấy ngược lại: sự mâu thuẫn xung khắc giữa giáo lý trong nhà trường với thực tế phũ phàng ngoài xã hội thường là nguyên nhân phát sinh và nuôi dưỡng gian dối, đạo đức giả và bạo lực, cuối cùng đưa đến bất ổn trầm trọng trong xã hội.

Lịch sử các nước Phương Tây cho thấy chỉ sau khi thế tục hoá nhà trường, tách nhà trường ra khỏi Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo thì khoa học, kỹ thuật hiện đại  mới có điều kiện phát triển mạnh mẽ, đồng thời Nhà Thờ không vì thế mà mất vị trí tinh thần của nó trong xã hội. Đối với chúng ta, mà mục tiêu tối thượng của dân tộc là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tưởng cũng cần một giải pháp tương tự cho giáo dục mới có thể mở đường chấn hưng đất nước. Cuộc sống từ lâu đã đòi hỏi nhà trường phải thoát khỏi chế độ bao cấp tư tưởng với những ràng buộc giáo lý cứng nhắc đang có tác dụng kìm hãm thay vì khai sáng trí tuệ 1. Thay vào đó, cần đề cao tính nhân văn: rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng, như trong mọi nhà trường tiên tiến trên thế giới. Đó mới chính là dạy người theo nghĩa cao quý nhất. Một khi sản phẩm của nhà trường là những con người tự do, với nhân cách và phẩm chất hướng theo hệ thống giá trị phổ quát của nhân loại thì cái mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới có cơ may hiện thực.  Bằng không, nếu chỉ chăm chăm đào tạo con người theo khuôn mẫu đúc sẵn thì cái mục tiêu ấy mãi mãi xa vời. Bởi lẽ trong một thế giới, một thời đại, đầy biến chuyển khó lường mà thế hệ chúng ta đang trải qua, mọi khuôn mẫu đúc sẵn đều không thể thích nghi được.

Giáo dục hiện đang đứng ở ngã ba đường, giống như kinh tế những năm giữa thập kỷ 80. Nếu lúc bấy giờ ta cứ kiên trì đường lối kinh tế tập trung bao cấp và tiếp tục dị ứng với cơ chế thị trường như hồi 1968, khi đó VN đã cùng với cả phe xã hội chủ nghĩa lên án mạnh mẽ chủ nghĩa xã hội thị trường Tiệp Khắc 2 , thì không biết điều gì đã xảy ra.  May thay, nhờ nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống với tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân, chúng ta đã kịp thời nhận ra nguồn gốc bế tắc của xã hội và đã có can đảm thay đổi tư duy, chấp nhận chính cái cơ chế thị trường ngày nào đã bị chúng ta bác bỏ. Đường lối đổi mới nhờ thế đã ra đời, cứu đất nước khỏi sự sụp đổ nhãn tiền. Đó là bài học sâu sắc.

Ngày nay, sau mấy chục năm giáo dục chìm đắm trong khủng hoảng triền miên bởi các ràng buộc ý thức hệ cứng nhắc, đã đến lúc chúng ta phải có sự lựa chọn: hoặc là tiếp tục con đường cũ, tiếp tục giam hãm đất nước trong nền giáo dục lạc hướng, ngày càng tụt hậu so với thế giới, hoặc là cương quyết thay đổi tư duy, thực hiện bước ngoặc cơ bản, mở đường cho một giai đoạn giáo dục khai phóng phát triển.

Đương nhiên đây là công việc không hề dễ dàng vì phải đoạn tuyệt với nhiều quan niệm, cách sống và nếp nghĩ đã ăn sâu trong tâm khảm nhiều thế hệ từ thời chiến đấu giành độc lập thống nhất. Nhưng là giải pháp trước sau gì cũng phải làm, mà càng để chậm trễ thì đất nước càng hụt hơi, càng bị cô lập và khó thích ứng kịp với những biến chuyển bất ngờ trong thế giới văn minh ngày nay.

II. Những vấn đề chính cần giải quyết trong cuộc cải cách giáo dục
    Sau khi đã xác định quan điểm tổng quát về sứ mạng cơ bản của giáo dục, mọi vấn đề cụ thể về tổ chức giáo dục,  nội dung chương trình học các cấp,  phương pháp giáo dục, v.v .  đều phải xem xét giải quyết trên cơ sở quan điểm đó. Bản đề cương này không đi sâu vào các vấn đề cụ thể có tính chất kỹ thuật là phần việc của các chuyên gia sau này mà chỉ tập trung nêu lên những định hướng lớn làm nền tảng và khuôn khổ giải quyết các vấn đề cụ thể ấy.
    Có 4 vấn đề lớn sau đây cần cấp bách giải quyết theo định hướng hội nhập tích cực vào trào lưu chung của thế giới văn minh. 
Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.


1. Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương, để nhà giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của mình. 

Có thể nói chính sách đối với người thầy là một trong những điểm khác biệt cơ bản của giáo dục VN so với thế giới và là nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất làm tha hóa giáo dục.
Có một nhà khoa học lớn nước ngoài tâm huyết với VN khi được hỏi về điều gì cần thay đổi cấp bách nhất để chấn hưng giáo dục, đặc biệt là đại học, đã không chút ngần ngại nói ngay đó là chế độ lương kỳ quặc không thấy đâu trong thế giới văn minh nhưng đã tồn tại dai dẳng ở VN từ hàng chục năm nay. Một chế độ lương biểu thị không gì khác hơn là sự khinh miệt đối với lao động giáo dục và khoa học, trái hẳn với chủ trương tôn vinh nhà giáo đã được lãnh đạo khẳng định lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần suốt thời gian qua.

Với đồng lương thấp đến mức khó tưởng tượng, đương nhiên nhà giáo và các quan chức giáo dục đều phải xoay xở để kiếm thêm thu nhập. Chính đó là cái lỗ hổng quản lý gây nên hoặc làm trầm trọng thêm hầu hết các căn bệnh trầm kha đã ra sức tàn phá giáo dục 3.  Chúng ta nói nhiều đến bệnh giả dối, gian trá,  thành tích ảo, v.v. nhưng làm sao chống được các bệnh ấy để có một nền giáo dục trung thực, lành mạnh, nói chi đến hiện đại, nếu cái nguyên nhân gây ra các bệnh ấy nằm ngay trong cơ chế, nói cách khác nằm ngay trong khuyết tật hệ thống của giáo dục ?

Sự thật, nhờ xoay xở đủ mọi cách hợp pháp hay không hợp pháp, hợp lý hay trái với lương tâm, phần lớn nhà giáo, nhất là quan chức giáo dục, nay đã có mức sống không đến nỗi quá tệ, thậm chí một bộ phận nhỏ còn có thu nhập khá. Song cái giá phải trả thật quá đắt. Những giải pháp chữa cháy gần đây theo kiểu “kế hoạch 3” hồi những năm 80 thế kỷ trước, hay cho phép nhiều cơ sở giáo dục vượt rào để xử lý từng trường hợp riêng lẻ về lâu dài rất  nguy hiểm, chỉ gây thêm rối loạn, dẫn đến bất công và tiêu cực ngày càng tệ hại hơn.

Điều không may là giải quyết vấn đề cốt tử này cực kỳ khó vì căn bệnh từ lâu đã thành một thứ ung thư của cả xã hội, chứ không riêng gì của giáo dục, lại gắn liền chặt chẽ với quốc nạn tham nhũng đang ngày càng gia tăng chóng mặt.  Trước mắt chưa thể hy vọng có thể chữa trị nhanh chóng cái ung thư này, cho nên giáo dục phải tìm mọi cách tự cứu lấy mình trong phạm vi có thể, may ra còn nêu gương cho các ngành khác để tiến dần đến một giải pháp chung. Theo tính toán của nhiều chuyên gia, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng dù trong phạm vi cả nước còn khó khăn thì ngay trong nội bộ ngành giáo dục, vẫn có thể  rà soát lại cơ chế tài chính, kiên quyết bỏ hay giảm bớt mọi khoản chi tiêu không hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lương, bảo đảm lương đủ sống và dần dần trở thành thu nhập chính của mỗi người, từ đó lập lại kỷ cương, đạo đức trong giáo dục. 
 
Trong một xã hội mà đời sống kinh tế bị thao túng nặng nề bởi các “nhóm lợi ích”, ai cũng thấy đây là việc vô cùng khó, tuy khả thi về điều kiện vật chất khách quan nhưng chắc chắn sẽ vấp trở ngại cực kỳ lớn. Biết thế, song giáo dục là lĩnh vực cần bảo vệ trong sạch nhất, nếu không cương quyết làm bây giờ mà cứ trì hoãn mãi thì sẽ ngày càng khó hơn và sẽ chẳng bao giờ có hy vọng trả lại lòng tự trọng cho giáo dục, chẳng bao giờ xây dựng được một nền giáo dục lành mạnh, trung thực, hiện đại.

2. Cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề
Hệ thống giáo dục THPT hiện tại có hai lãng phí lớn.

Lãng phí thứ nhất là hàng năm có một số lớn thanh niên tốt nghiệp THPT không qua lọt cánh cửa ĐH, CĐ, phải bước vào thị trường lao động, chịu bằng lòng với một việc làm đơn giản (không cần tay nghề), dù đã tốn 12 năm đèn sách, hoặc phải chấp nhận vào học nghề ở một trường trung cấp kỹ thuật vốn chỉ đòi hỏi trình độ THCS. Trong khi đó vì thiếu công nhân lành ghề và kỹ thuật viên thông thạo nên công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, sau mấy thập kỷ xây dựng công nghiệp mà cuối cùng  chỉ có lắp ráp, xuất khẩu tài nguyên thô, thì làm sao giàu được. Tình trạng lãng phí đó vừa thiệt hại cho xã hội vừa tạo mầm mống bất ổn trong thanh niên.

Lãng phí lớn thứ hai, khó thấy hơn, nhưng nghiêm trọng hơn, là cách học và thi quá lạc hậu ở THPT gắn liền với thói hư học cổ lỗ, hoàn toàn không chú ý các đặc điểm và đòi hỏi của lứa tuổi, làm phí sức học sinh một cách vô ích, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đến tương lai nghề nghiệp của một số khá đông, lại rất tốn kém cho gia đình và xã hội. Trẻ em ta học hết 12 năm THPT thì mệt nhoài, lên đại học và trên nữa thường mau đuối sức khi đua tranh với bạn bè các nước mà ở đó tuổi thiếu niên vừa được học vừa được chơi, chơi mà học, để dành sức sau này có thể tiến lên xa vào những giai đoạn quyết định của cuộc đời. 
Muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng.


Để khắc phục những bất hợp lý trên cần cải tổ hệ thống giáo dục để sau THCS có hai nhánh rẽ: một số lớn học sinh (khoảng 2/3) sẽ vào trung học hướng nghiệp, chỉ 1/3 vào trung học phổ thông. Học xong trung học hướng nghiệp có thể đi ngay vào thị trường lao động tìm một việc làm có nghề nhưng nếu muốn cũng có thể học lên cao hơn (cao đẳng hay đại học) vì chương trình học, ngoài phần hướng nghiệp, vẫn bảo đảm phần văn hoá cơ bản cần thiết. Còn trung học phổ thông có nhiệm vụ chủ yếu chuẩn bị đầu vào cho đại học. Theo hướng đó cần phát triển mạnh trung học hướng nghiệp, đồng thời cấu trúc lại chương trình và cách học ở trung học phổ thông cho phù hợp với nhiệm vụ của cấp học này.  Cụ thể là bãi bỏ cách phân ban bất cập hiện nay để tổ chức lại việc học như ở nhiều nước tiên tiến, về mỗi môn học đều có một chương trình bình thường và một hoặc nhiều chương trình nâng cao, theo nhiều mức độ nâng cao khác nhau, cho phép học sinh được tự do lựa chọn chương trình nào hợp sức và hợp sở thích, đồng thời dễ dàng điều chỉnh sự lựa chọn khi thấy cần thiết. Với cách học đó học sinh cả trung học hướng nghiệp và trung học phổ thông đều không bị quá tải, vì được học sâu những môn ưa thích và không phải học quá kỹ nhiều thứ mà sau này sẽ chẳng bao giờ cần đến. Đó mới là cách thực tế và hiệu quả giảm tải ở cấp học phổ thông, chứ không phải như hiện nay, chương trình bị kẹt giữa hai yêu cầu mâu thuẫn: vừa giảm tải vừa không hạ thấp chất lượng.  Hơn nữa về những môn hợp với xu hướng sở thích thì  học sinh có cơ hội được học đủ sâu để đến khi tốt nghiệp có đủ hiểu biết  tìm được việc làm có nghề, và nếu xuất sắc thì khi học tiếp lên ĐH hay CĐ có thể học vượt lớp, tiết kiệm thời gian. Như thế tránh được nhiều sự lãng phí cho cả xã hội lẫn cho từng cá nhân học sinh. Tuổi 15-18 là tuổi vàng, nhiệm vụ của nhà trường là tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển đến mức tối đa của mình, chứ không phải chỉ nhằm bảo đảm cho mọi cá nhân môt mức tối thiểu đồng loạt như cách dạy hiên nay ở THPT 4.

3. Thay đổi căn bản cung cách học và thi, xoá bỏ thi cử nặng nề, tốn kém mà kém hiệu quả 

Đồng thời với cải tổ hệ thống giáo dục, thì cách học, cách thi cử và đánh giá cũng phải thay đổi tận gốc. Đặc biệt cần đổi mới căn bản tư duy thi tốt nghiệp và tuyển sinh. Trong một nhà máy làm ra một sản phẩm gồm nhiều bộ phận riêng rẽ (môđun) ghép lắp lại, người ta phải kiểm tra kỹ chất lượng khi sản xuất từng bộ phận, đến khi lắp ráp chỉ kiểm tra chất lượng lắp ráp. Việc học và thi trong nhà trường cũng vậy: mỗi môn, mỗi học phần như một môđun, học môn nào, học phần nào phải kiểm tra, thi nghiêm túc ngay môn đó, phần đó, đến cuối cấp không thi lại từng môn, từng học phần nữa, mà chỉ phải làm một tiểu luận hoặc qua một kỳ thi nhẹ nhàng, với mục đích chủ yếu kiểm tra trình độ văn hóa phổ quát (giống như kiểm tra chất lượng lắp ráp các môđun trong nhà máy). Hơn nữa, kỳ thi nhẹ nhàng này cũng có thể không bắt buộc cho mọi người mà có thể coi như một kỳ thi sơ tuyển (ST) vào ĐH, CĐ chỉ bắt buộc đối với những ai muốn vào học ĐH, CĐ.  Còn việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ thì cần trả lại cho từng trường. Mỗi trường tuyển sinh căn cứ vào kết quả thi (ST) và học bạ hoặc qua một kỳ thi tuyển nếu trường nào có yêu cầu đào tạo đặc biệt 4.
 
 Cách học và thi như thế khác hẳn cách học và thi hiện nay là dồn tất cả sự kiểm tra vào cuối cấp trong một kỳ thi tốt nghiệp mà nhiều người cho là thi vờ vì chỉ để loại vài phần trăm thí sinh, là những em quá kém không cần thi cũng có thể loại được theo học bạ.  Có ý kiến cho rằng tuy thi vờ nhưng là cần thiết vì tâm lý học sinh là có thi thì mới học tử tế5.  Té ra là vậy: đất nước còn rất nghèo mà phải tốn kém hàng chục nghìn tỉ mỗi năm tổ chức thi chỉ để dọa và gây áp lực buộc học sinh phải học. Cùng một luồng ý kiến đó nhiều quan chức giáo dục cho rằng trong điều kiện hiện thời, thầy cô giáo chịu quá nhiều áp lực không lành mạnh từ phía xã hội nên rất khó bảo đảm việc học và thi nghiêm túc từng môn, từng học kỳ, ở từng lớp, từng địa phương được. Cho nên không còn cách nào khác là phải thi tôt nghiệp, dù chỉ là thi vờ.  Nói thế khác nào bảo một nền giáo dục trung thưc là ngoài tầm với của xã hội ta hiện nay – thật lạ lùng và xót xa, vì một nền giáo dục trung thực đâu có gì quá khó, nó đã từng có ở cả hai Miền Bắc và Nam suôt từ 1945 đến 1975. Một ý kiến xác đáng hơn là quy một phần nguyên nhân phát triển gian trá trong thi cử là do chương trình quá nặng, mà thi tốt nghiệp lại quá căng thẳng: thi viết gần hết các môn trong thời gian chỉ mấy ngày, tiềm ẩn rủi ro học tài thi phận, khiến một số học sinh dễ nảy ra tư tưởng đối phó bằng thủ đoạn gian dối, cầu cứu đến cả sự giúp sức của phụ huynh và thầy cô giáo. Đúng là chương trình quá tải cũng là một vấn đề, nhưng không thể giảm tải theo kiểu cắt giảm lung tung như chúng ta đã làm lâu nay mà chủ yếu phải cải tổ cả hệ thống giáo dục phổ thông như đã trình bày ở trên, chấm dứt cách giáo dục đồng loạt, quá nặng với số đông lại quá nhẹ với số có khả năng. Đông thời để bảo đảm tính trung thực, trước hết phải thực hiện kiểm tra, thi học kỳ nghiêm túc, nghĩa là trung thực, ngay từ những lớp nhỏ nhất chứ không đợi đến cuối cấp. Khi đó mới có thể thi tốt nghiệp nhẹ nhàng, chỉ cốt để kiểm tra chất lượng tổng hợp, tức là trình độ văn hóa phổ quát, hoặc thậm chí chỉ xét kết quả học tập theo học bạ để cho tốt nghiệp mà không phải thi.

Điều quan trọng ít người chú ý là lối thi tôt nghiệp và tuyển sinh như hiện nay tạo ra áp lực tâm lý và tinh thần rất lớn, đặt thí sinh trước những thử thách vượt quá khả năng chịu đựng của các em. Trong một xã hội mà xung quanh quá nhiều dối trá, rất hiếm trung thực, nếu đặt thiếu niên trước những thử thách trung thực quá sức thì cũng chẳng khác nào đưa trẻ ra phơi nhiễm giữa một vùng đang dịch bệnh, làm sao trẻ tránh không bị nhiễm. Cho nên chẳng lạ gì kỳ thi nào cũng có chuyện quay cóp, gian dối, mà những chuyện đã bị phanh phui chỉ là phần nổi của tảng băng. Cuộc sống đã dạy chúng ta quá đủ rằng cách học và thi như hiện nay chẳng những gây lãng phí lớn về công sức, tiền của, thời gian, mà còn khuyến khích phát triển sự dối trá, thói đạo đức giả, là những thứ hư hỏng cần tránh trước hết trong nhà trường.

4. Chuyển mạnh giáo dục đại học theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế về cả nội dung, phương pháp và tổ chức quản lý

Chỉ nhìn qua hệ thống đại học VN hiện nay cũng đã thấy cảnh tượng lộn xộn, rất khác mọi nơi trên thế giới: trường nào, kiểu gì, cũng gọi là đại học, trong một đại học lại có thể có nhiều đại học thành viên, dịch ra tiếng Anh tất cả đều là university, không phân biệt university với school, ai muốn hiểu ra sao thì hiểu 6. Đành rằng đây chỉ là vấn đề tên gọi, nhưng nó cũng phản ảnh một nét riêng “không giống ai” của đại học VN. Đi sâu hơn vào hoạt động cụ thể của đại học càng thấy rõ sự tụt hậu  bắt nguồn từ lối suy nghĩ chủ quan tự cho mình có thể tự biên tự diễn, bất chấp thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Cho nên muốn hội nhập quốc tế thành công, tiến lên một nền đại học thật sự hiện đại, trước hết phải từ bỏ lối nghĩ đó, khiêm tốn học hỏi, tuân thủ các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, điều gì muốn làm khác thì cần suy nghĩ cẩn trọng và có lý do thật xác đáng. Chúng ta đang rớt lại sau đuôi thiên hạ, tại sao cứ muốn làm độc đáo, khác người để mãi mãi thất bại ? Ngay đến một nước có truyền thống khoa học, giáo dục lâu đời như Pháp mà cách đây 30 năm khi đánh giá nền đại học lúc ấy của họ nhà khoa học lỗi lạc Pháp L. Schwartz  cũng đã từng lên tiếng: “nếu Pháp là nước duy nhất trên thế giới còn muốn giữ lại mãi một số quan niệm cũ về giáo dục đại học thì hoặc chúng ta đúng và nền đại học của ta phải là tiên tiến và được ngưỡng mộ nhất thế giới – điều rõ ràng không phải vậy – hoặc chúng ta sai và cần phải thay đổi.” Cho hay yêu cầu cùng đi con đường chung với cả thế giới không phải chỉ đặt ra cho các nước kém phát triển.

Cái khó là trước đây hệ thống giáo dục đại học của ta phỏng theo mô hình giáo dục đại học Liên Xô cũ. Đến khi nhận rõ mô hình đó không còn thích hợp mà phải thay đổi theo yêu cẩu  mới của công cuộc phát triển đất nước, ta lại không có những nhà quản lý đủ hiểu biết chuyên nghiệp cần thiết và nắm vững tính hệ thống nên cứ thay đổi nham nhở, chắp vá, cuối cùng biến giáo dục đại học thành một hệ thống đầu Ngô mình Sở, chẳng giống ai cả. Đã thế mà từ 2006  lại mạo hiểm lao theo chiến lược tân tự do trong phát triển giáo dục, cổ suý giáo dục là hàng hóa, phát triển mạnh trường tư vị lợi, cổ phần hóa đại học công, v.v. 7 Trong khi đó, mọi vấn đề từ chế độ tiền lương, chính sách sử dụng tài năng, từ việc đào tạo sau cử nhân, phương thức đào tạo liên ngành, cho đến tuyển dụng, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, bảo đảm tự chủ đại học, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học, tự do học thuật, tất cả đều ở trạng thái cổ hủ, lạc hậu. Chẳng khác nào đường sá thì lầy lội gồ ghề, đầy ổ trâu ổ gà, lại chủ trương nhập xe hơi xịn phóng nhanh cho oai.  Chính cái tâm lý chưa biết đi đã đòi chạy, cái lối học kinh nghiệm thế giới theo kiểu thầy bói sờ voi đó là nguồn gốc tất cả những yếu kém, khó khăn của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam dù đã tốn không ít công sức xây dựng qua mấy thập kỷ.

Công bằng mà nói, từ vài năm lại đây, sau nhiều bài học thất bại, nhận thức cũng đã có ít nhiều thay đổi, nhờ đó đã có những cố gắng tich cực hướng tới hội nhập quốc tế. Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế, do sức ỳ quán tính của bộ máy quản lý còn nặng, do tư duy vẫn luẩn quẩn trong những giáo điều dai dẳng và những ràng buộc thể chế ngặt nghèo. Rõ nhất là về mục tiêu, sứ mạng đại học, về phương thức đào tạo, về quyền tự chủ đại học và tự do học thuật, nghĩa là về các vấn đề then chốt nhất của đại học hiện đại, quan niệm chung của chúng ta còn rất mơ hồ, lệch lạc, có mặt lạc hậu nửa thế kỷ.

Cho nên thách thức lớn nhất của giáo dục hiện nay là hiện đại hóa đại học, đưa đại học hội nhập thật sự vào con đường phát triển chung của thế giới. Hãy dứt khoát rủ bỏ những gì lạc hậu, trì trệ còn níu kéo chúng ta để chuyển mạnh theo mô hình giáo dục đại học Hoa Kỳ là mô hình được thừa nhận tiên tiến và đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. Có thể nói thành bại của cuộc cải cách giáo dục một phần quyết định tùy thuộc tiến trình hiện đại hóa đại học này.

III.  Lộ trình và tổ chức thực hiện

Cải cách giáo dục cần phải được thực hiện kiên quyết, khẩn trương, nhưng không vội vã.  Sau khi Trung Ương và Quốc Hội thảo luận và thông qua đề cương cải cách nêu lên phương hướng chính cùng với những khâu mấu chốt cần giải quyết trong cải cách, thì cần thành lập Ủy Ban Quốc Gia Chỉ Đạo Cải Cách Giáo Dục, bao gồm những người có năng lực và có tâm huyết, vừa có tầm nhìn vừa thật sự quan tâm, lo lắng cho giáo dục.  Ủy ban này sẽ vạch ra lộ trình và kế hoạch thực hiện cụ thể để có thể hoàn tất công cuộc cải cách sau khoảng một thập kỷ. Trước mắt để thực hiện được cải cách ở những khâu cấp bách phải tổ chức nghiên cứu  những vấn đề cụ thể như chương trình và sách giáo khoa cho các cấp phổ thông, phương pháp giảng dạy ở các cấp, đổi mới thi cử, v.v. theo quan điểm tư duy mới. Biết rằng trong hiện tình đất nước có vô vàn khó khăn, nhưng đây cũng là thời cơ để giáo dục có thể lột xác, từ một kiểu giáo dục nặng tính giáo điều, lạc hậu và lạc điệu với thời đại và thế giới, tiến lên một nền giáo dục khai sáng, lành mạnh, trung thực, hiện đại, phù hợp xu thế tiến hóa chung của nhân loại và đáp ứng lợi ích tối cao của đất nước. 

----------
Chú thích:

1 : Một trong những nguyên lý bất khả tranh luận chỉ đạo nền giáo dục trước đây một thời là  giáo dục phải tuyệt đối phục tùng chính trị, trong nhà trường chính trị là thống soái, trong hai vế “hồng” và “chuyên” thì “hồng” là tiên quyết. Mặc dù qua cọ xát thực tế nguyên lý ấy đã buộc phải nới lỏng nhiều, nhưng nó vẫn còn ảnh hưởng đậm nét trong nhiều khâu quan trọng về nội dung, phương pháp giáo dục, về rèn luyện đạo đức, về cách tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, cất nhắc cán bộ.

2 : Do Dubcek, nhà lãnh dạo Tiệp Khắc khi ấy, khởi xướng. Ông này sau đó đã bị lật đổ trong một cuộc can thiệp quân sự mạnh mẽ của Liên Xô mà hồi ấy cả khối xã hội chủ nghĩa đều ủng hộ.

3 : Cái phần thu nhập thêm ngoài lương đó thật ra cũng từ ngân sách hoặc từ đóng góp của người học, nhưng bắt buộc nhà giáo phải mất sức làm thêm nhiêu việc không hợp lý (chủ yếu là dạy thêm, dưới nhiều hình thức). Thành ra  thay vì trả lương đủ một cách đương hoàng thì người ta  chia lương ra thành hai phần:  một phần nhỏ, goi là lương chính thức, quy định chặt chẽ, còn phần kia (cũng từ ngân sách hoặc đóng góp của dân)  thì tùy thuộc sự xoay xở của mỗi người – chức càng cao khả năng và phạm vi xoay xở càng lớn. 

4 : Gần đây có nhiều ý kiến đề nghị rút thời gian trường phổ thông xuống còn 11 năm. Theo tôi điều này chỉ đặt ra với trường phổ thông được quan niệm như hiện nay là học thẳng một mạch, tôt nghiệp thì ra đời hoặc học lên đại học. Với trường phổ thông quan niệm như vậy sẽ không tránh khỏi hai bất cập lớn của trường phổ thông hiện nay như trên đã phân tích (chỉ có khác là 11 năm thay vì 12 năm).  Còn để có học vấn phổ thông phổ cập khi ra đời thì chỉ cần 9 năm THCS như đề nghị của chúng tôi là đủ, sau đó hoặc học trung học hướng nghiệp, hoăc trung học phổ thông để chuẩn bị đầu vào đại học.

5: Để biện minh chủ trương duy trì thi tốt nghiệp THPT một số quan chức giáo dục thường viện lẽ trên thế giới bất cứ nước nào cũng có thi tốt nghiệp. Đây là thông tin sai, nhất là nếu hiểu thi tôt nghiệp là thi theo kiểu ta. Nhân đây tôi nhớ lại khi bàn về phân ban ở THPT trước đây 8 năm một số người muốn bênh vực cách  phân ban cứng nhắc của ta thường viện dẫn lý do phần lớn các nước trên thế giới đều làm như vậy, thậm chí còn dẫn ra ở Thụy Điển THPT có đến cả vài chục ban. Hỏi ra mới biết đó là do hiểu sai cách tổ chức học ở THPT Thụy Điển và nhiều nước khác.

6 : Trươc kia ở Miền Bắc, theo mô hình Liên Xô và các nước Đông Âu, chỉ Đại học Tổng hợp mới dịch là University, cho nên Hanoi University là dịch tên Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nay có Đại Học Hà Nội mới mở, cũng gọi là Hanoi University nhưng hoàn toàn không liên quan với Đại học Tổng hợp xưa.  Thật là rối.

7: Một nét khác biệt, không giống ai cả, của đại học công lập VN là bên cạnh hệ chính quy, còn có hệ “ngoài ngân sách”,  học phí cao của sinh viên hệ này dùng để tăng thu nhập cho thầy  dạy, bù vào lương chính thức quá thấp. Đây thực chất không khác gì  một loại trường tư trá hình, ghép vào trường công để sử dụng phương tiện của trường công. Nếu kể càc hệ này là ngoài công lập thì thật ra tỉ lệ sinh viên ngoài công lập ở VN phải đến 60-70% chứ không ít hơn,  Ở nhiều nơi số sinh viên tuyển vào hệ này xấp xỉ số sinh viên chính quy, tạo ra một nguồn thu nhập khá  cho thầy dạy, với cái giá phải trả là tăng gấp đôi hoặc hơn số giờ dạy cho các thầy, vừa hạ thấp chất lượng đào tạo ngay trước mắt, vừa khiến cho thầy dạy không còn thì giờ nghiên cứu khoa học hoặc học thêm nâng cao trình độ. Số này sau một số năm như vậy, nếu có được cử đi du học thì sức bật cũng không còn nhiều, còn nếu cứ tiếp tục ở lại trường thì ngày càng đuối sức so với yêu cầu, không theo kịp được đà tiến nhanh của khoa học, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng về lâu dài.


Xem thêm: http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/GS-Hoang-Tuy-Giao-duc-cua-ta-dang-lac-dieu-voi-the-gioi-van-minh/231851.gd

và http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/40902/nhan-giai-thuong--gs-hoang-tuy-buon-nhieu-hon.html

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM GIẢI THOÁT QUỐC GIA


http://quechoa.vn/2012/09/21/tu-nhan-luong-tam-giai-thoat-quoc-gia/#more-26793


Hiệu Minh
Tuần qua, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế Đức Philipp Roesler gốc Việt thăm Hà Nội, bàn chuyện làm ăn và đòi phía chủ nhà tha 5 tù nhân chính trị. Trong lúc ấy, bà Aung San Suu Kyi, cựu tù nhân lương tâm của Myanmar, đang làm thượng khách của nước Mỹ. Một bên khuyên thả tù, một bên, từng là tù nhân, đang tìm lối thoát cho đất nước khỏi đói nghèo, tụt hậu.
 Năm tỷ đô la và năm tù nhân lương tâm
Khi tiếp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Kinh tế Đức, Philipp Roesler, Bộ trưởng BNG Phạm Bình Minh, đã khẳng định “Đức là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam tại Liên hiệp châu Âu (EU), với tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2011 đạt gần 5,6 tỉ USD, tăng 33% so với năm 2010.”
Cách đó hai năm cũng vào dịp này (10-2011), bà Angela Merkel, Thủ tướng Đức, đã thăm Hà Nội để bàn về hiệp định mậu dịch tự do với Liên hiệp Âu châu và Đức, nền kinh tế lớn nhất EU, cũng ủng hộ thỏa thuận này.
Đọc hai mẩu tin nhỏ cũng biết ông Roesler đến Hà Nội lấy kinh tế làm trọng.
Ông là người Đức nhưng có phần máu Việt. Roesler sinh năm 1973 tại Khánh Hòa và được một gia đình Đức nhận làm con nuôi khi mới chín tháng tuổi. Xuất thân là trẻ mồ côi, không biết cha mẹ là ai, sang Đức hơn ba chục năm, Roesler đã lên tới chức Phó Thủ tướng Đức từ tháng 5-2011. Có lẽ ông là người gốc Việt thành công nhất trong những người mình ở hải ngoại.
Khi bàn về công chuyện thì Roesler là người Đức vì quyền lợi Đức. Khi bia bọt, có thể Roesler kể về vùng quê xa tít mù khơi, cốt gây thiện cảm với chủ nhà và giúp ký hợp đồng dễ hơn.
Đến thăm Đại học Kinh tế Quốc dân, ông nhắc “Với những người không được tự do để chọn cho mình cách suy nghĩ và hành động độc lập, thì sẽ không có kinh doanh, và thiếu tự do kinh tế cũng sẽ không có tự do xã hội.”
Hoặc “Một đứa trẻ mồ côi thời chiến tại Việt Nam được nhận làm con nuôi mà có cơ hội vươn lên trong một xã hội dân chủ như vậy, và gánh vác trách nhiệm lớn thì đó là bằng chứng nền dân chủ có thể tạo ra sức mạnh như thế nào.”
Nghe nói trong túi Roesler có danh sách 5 tù nhân và yêu cầu Việt Nam thả tự do. Phóng viên Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ vừa bị kết án 4 năm tù cũng được sự quan tâm đặc biệt của chính phủ Đức.
Kinh tế, nhân quyền, tự do, dân chủ và đồng minh, hợp tác luôn là câu nói cửa miệng của các chính khách phương Tây. Roesler không phải là ngoại lệ . Joseph Cao, người Mỹ gốc Việt, nguyên nghị viên QH Mỹ, đến thăm Hà Nội cũng hành xử không khác mấy.
Họ đều biết là Việt Nam không nghe. Nhưng mưa dầm thấm lâu. Biết đâu có ngày các vị lãnh đạo nhà mình đổi ý.
Roesler đưa lên bàn cân, một bên là 5 người tù nhân lương tâm, bên kia là hợp tác kinh tế 5 tỷ đô la giữa hai quốc gia. Sau chuyến thăm, nếu thuận buồm xuôi gió, thì có thể số tiền kia tăng lên gấp đôi, gấp ba, vì nước Đức coi Việt Nam là thị trường tiềm năng.
Trong cuộc nói chuyện với sinh viên, Roesler nhắc đến vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế, cũng như nói về sở hữu cá nhân.
Ông còn nhấn mạnh, điều kiện cho đầu tư là chữ tín của hợp đồng và niềm tin của đối tác với hợp đồng. Trong làm ăn, dân Việt ta ít được tín nhiệm trong việc giữ lời hứa.
Trong bối cảnh chiến lược dựa vào quả đấm thép “doanh nghiệp nhà nước” bị thất bại hoàn toàn thì câu nhắc nhở “sở hữu cá nhân” so với “sở hữu toàn dân”, giữ chữ tín, từ miệng một chàng trai trẻ mang dòng máu Việt không phải không có lý.
Đưa quốc gia vượt ra khỏi mối bùng nhùng, đôi lúc hãy bắt đầu bằng xây dựng chữ tín. Tín với bạn, tín với đối tác, tín với dân, tín với lời thề trước Đảng CS của ông Carl Marx, đồng hương với Roesler.
Tha tù nhân lương tâm – bước đi khôn ngoan
Ở tầm quốc tế, chữ tín đôi khi bắt đầu bằng những việc đơn giản. Tha tù nhân chính trị để cải thiện hình ảnh quốc gia cũng là một bước đi quan trọng.
Còn nhớ, cuối năm 2010 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi gặp Tổng thống Tổng thống Thein Sein đã khuyên
Bà Suu Kyi nhận Huân chương tại Hoa Kỳ. Ảnh: Reuters
Myanmar mở cửa với thế giới bên ngoài vì nhìn gương Việt Nam.
Phần khác, các cuộc cách mạng mầu Ả Rập và Đông Âu đã làm các tướng tham lam bên xứ Phật phải hoa mắt, ù tai. Thay đổi hay là chết, họ nhìn ra ánh sáng cuối đường hầm.
Giữ chữ tín với người đồng nhiệm Việt Nam, cựu tướng quân Thein Sein đã khởi động tiến trình cải cách dân chủ, thả bà Aung San Suu Kyi và bầu cử tự do, công nhận sự hợp hiến của phe đối lập. Hàng ngàn tù nhân chính trị đã được thả.
Mới đây, ông còn thay tới 16 bộ trưởng, trong đó có bộ trưởng Thông tin. Không kiểm soát báo chí và cho phép báo tư nhân ra đời. Quyền lực thứ tư sẽ giúp cho xã hội minh bạch và trong sạch hơn.
Hiện nay phương Tây ồ ạt đổ vào Yangon. Máy bay lúc nào cũng chật cứng thương gia. Tôi thăm Yangon hồi tháng 7 và đoàn công tác đã tìm ra vài địa điểm để thuê văn phòng. Nhưng giá cả hàng ngày lên vù vù, khó mà theo kịp, không cẩn thận sẽ không thuê được nữa. Ngày tôi ở Yangon, Hoa Kỳ tuyên bố bỏ hạn chế các công ty Mỹ vào làm ăn.
Tháng trước Aung San Suu Kyi thăm khắp châu Âu và được chào đón nồng nhiệt. Mấy hôm nay, cựu tù nhân lương tâm, khôi nguyên Nobel hòa bình, đang thăm Mỹ 18 ngày.
Ngoài việc nhận Huy chương Vàng Quốc hội Mỹ, gặp Hillary Clinton, và các nhà lập pháp, Obama tiếp tại Nhà Trắng, rồi Tổng Thư ký UN chào đón, với lịch thăm thú dầy đặc, bà Aung San Suu Kyi được Tổng thống Thein Sein, người từng giam giữ bà hàng chục năm, giao nhiệm vụ nặng nề là đàm phán với Mỹ để nới lỏng các biện pháp trừng phạt kinh tế.
Tin giờ chót cho biết, phía Mỹ đã bỏ lệnh trừng phạt cá nhân Tổng thống Thein Sein và chủ tịch Quốc hội Myanmar.
Bà nói rất rõ với phía Mỹ, cải cách chính trị tại Myanmar không thể phụ thuộc vào cấm vận của bất kỳ ai, mà phải dựa vào nội lực của chính quốc gia ấy.
Dùng tù nhân lương tâm để giải thoát quốc gia trên thế giới đã từng xảy ra và có những ví dụ về hòa giải tuyệt vời.
Obama gặp Suu Kyi. Ảnh: AP
Nam Phi có Nelson Mandela, ngồi sau song sắt 27 năm trời và sau thành lãnh tụ yêu mến của cả da trắng lẫn da đen, bởi vị tổng thống da trắng Frederik Willem de Klerk đã biết hòa giải.
Ba Lan có thủ lãnh công đoàn Đoàn kết  Lech Wałęsa bị tù, giam lỏng, rồi lên đến Tổng thống bởi vị lãnh đạo cộng sản Wojciech Jaruzelskilúc đó hiểu thời thế.
Thời cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình vào tù ra tội, nhưng chính ông đưa nước Trung Hoa lên hàng thứ hai trên thế giới vì thuyết mèo đen mèo trắng.
Niềm hy vọng tiếp theo, cả thế giới đang trông chờ vào sự khéo léo của người phụ nữ tưởng rằng yếu đuối như Suu Kyi. Chính nữ tù nhân lương tâm này sẽ thay đổi Myanmar
Liệu ai đó có rút ra được gì từ bài học “tha tù cứu nước” để tiến tới dân chủ của Myanmar hay lời chân tình bàn về tự do và chữ tín của đứa con bị bỏ rơi Philipp Roesler khi đến Hà Nội.
(Vĩnh Thuận sưu tầm - 21-9-2012)

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

Con đường nam tiến của China


Đoan Trang



Con đường bành trướng xuống phía nam của Trung Quốc được thực hiện cả trên bộ lẫn trên biển. Nếu quá bị cuốn vào chuyện biển Đông, chúng ta có thể rơi vào bẫy của Trung Quốc.

“Cần phải nhìn nhận quá trình nam tiến của Trung Quốc một cách toàn diện, trong đó không chỉ có khu vực biển Đông và hình thức xung đột quân sự. Đó còn là quá trình diễn ra trên đất liền với những hình thức chiến tranh kinh tế, chiến tranh tiền tệ, chiến tranh mạng, là bành trướng văn hóa, là áp lực chính trị, là quá trình di dân...” - Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên Tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, nhận định.

Phân tích vị trí địa lý của Trung Quốc, ông Quách Hải Lượng không đánh giá cao cơ hội của Trung Quốc ở phía bắc (giáp với Nga), phía đông (bị Nhật Bản, Hàn Quốc án ngữ, mà đó là những đồng minh thân cận của Mỹ) và phía tây (giáp vùng Trung Á, vốn bất ổn với sự cạnh tranh của nhiều cường quốc). Hướng mở rộng của Trung Quốc gần như chỉ có một.

Nhận định này cũng trùng với ý kiến của TS chính trị học Đinh Hoàng Thắng. Trong một cuộc trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Thắng nói: “Phải thấy là Trung Quốc chỉ còn phía nam để phát triển xuống. Thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương, nếu chỉ dừng chân trong lục địa Trung Hoa thì không được, mà các ngả khác thì bị chặn hết rồi”.

Biểu hiện rõ ràng nhất của tư tưởng “nam tiến” có lẽ đã xuất hiện từ thời Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1976. Tháng 9-1963, Chu Ân Lai phát biểu trong cuộc gặp gỡ với các đại diện của Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Indonesia tại Quảng Đông: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông Nam châu Á” (Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm, NXB Sự thật, năm 1979).

Đồng tiền đi trước

Hiếm khi nào trong lịch sử sự hiện diện của Trung Quốc ở Đông Nam Á lại mạnh mẽ trên tất cả lĩnh vực như từ một thập kỷ trở lại đây. Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar, với sự gắn kết chặt chẽ về địa lý và văn hóa với Trung Quốc, với những yếu kém nội tại của mình, là mắt xích yếu nhất dọc biên giới mà người láng giềng phương bắc của họ có thể khai thác. Đồng tiền đi trước, con đường đầu tư kinh tế có lẽ là lối đi nhanh và hiệu quả nhất. Trong một bài viết mới đây, nhà nghiên cứu Trung Quốc Bonnie S. Glaser (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS, Mỹ) cho biết: “Trong hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc đã theo đuổi một chiến lược ở Đông Nam Á với nội dung căn bản là sử dụng “củ cà rốt” kinh tế để làm tăng lợi ích của các nước Đông Nam Á trong việc gìn giữ quan hệ tốt với Trung Quốc”.

Năm 2010, với những khoản đầu tư trị giá 2,9 tỉ USD, Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Lào và có trong tay khoảng 10.000 km2 đất dự án, tương đương với 4% diện tích của cả nước Lào. Người Trung Quốc kiểm soát phần lớn nền kinh tế Lào, từ khai thác mỏ, thủy điện đến cao su, hay cả ngành bán lẻ và dịch vụ khách sạn.

Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở Campuchia: Trong năm năm qua, Campuchia đã nhận được khoảng 2 tỉ USD tiền viện trợ từ Bắc Kinh với những điều kiện hết sức hào phóng.

Tại Myanmar, 8,7 tỉ USD đã được Trung Quốc rót vào các dự án đầu tư trong năm 2010, chưa kể khoản vay không lãi trị giá 4,2 tỉ USD. Tính đến tháng 7-2011, 800 dự án của các nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang hoạt động tại Việt Nam với số vốn đăng ký 3,2 tỉ USD, đứng thứ năm trong các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

“Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy”

Đầu tháng 7-2012, lần đầu tiên Hội nghị các ngoại trưởng ASEAN với lịch sử 45 năm không thể đưa ra được thông cáo chung mà lý do là sự bất đồng của nước chủ nhà Campuchia với các nước có liên quan đến tranh chấp trên biển Đông. Nguyên nhân sâu xa này nhanh chóng được lý giải khi ngay sau hội nghị, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cảm ơn Campuchia về sự hợp tác chặt chẽ của chủ nhà trong tiến trình hội nghị.

Nhà phân tích Bonnie S. Glaser nhận định: “Việc Trung Quốc gây ảnh hưởng khống chế lên Campuchia không phải điều đáng ngạc nhiên. Bắc Kinh đã cung cấp tới hơn 10 tỉ USD đầu tư trực tiếp cho Campuchia. Chỉ tính riêng trong năm 2011, lượng đầu tư mà Trung Quốc cam kết với Phnom Penh cao gấp 10 lần con số Mỹ cam kết. Sự phụ thuộc của Campuchia vào Trung Quốc, về mặt kinh tế, thể hiện rõ ở Cung điện Hòa Bình - công trình được xây bằng tiền tài trợ của Trung Quốc - là nơi họp hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa qua”.

Tháng 6-2011, thủ tướng Campuchia công khai khẳng định Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất, đồng thời là nhà tài trợ lớn nhất trong việc giúp đỡ Campuchia xây dựng cơ sở hạ tầng, gồm đường sá, cầu cống... Vấn đề ở đây, theo các nhà phân tích, là các thỏa thuận kinh tế luôn kéo theo những hệ quả chính trị, xã hội, quân sự đã được hoạch định từ trước đó.

Đại tá Quách Hải Lượng nói: “Trung Quốc rất giỏi trong việc xâm chiếm bằng cách làm đường. Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy, di dân đến đấy. Họ mưu tính làm một con đường suốt từ Vân Nam đi dọc Lào xuống tới tận Tây Nguyên, mà ở đoạn cuối Tây Nguyên thì Campuchia và Lào cho họ thuê đất tới 55 năm. Như vậy cả khu vực sẽ gần như là đất của họ”.

“Đứng về chiến lược quân sự, đó là những con đường cơ động chiến lược và cơ động chiến dịch. Về kinh tế thì có thể khống chế được toàn bộ các hành lang quan trọng của bán đảo Đông Dương. Họ xây dựng cơ sở hạ tầng là nhằm như thế” - ông Lượng giải thích.

Trung Quốc đang nắn dần đường biên giới quốc gia không theo cách thức tấn công quân sự truyền thống mà bằng cách di dân. Số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy có khoảng 2,5 triệu người Hoa đến Đông Nam Á làm ăn sinh sống trong vòng 30 năm qua. Khoảng 1 triệu người Trung Quốc cũng đã di dân đến Myanmar trong giai đoạn 1995-2005, theo báo cáo của nhà nghiên cứu độc lập Sudha Ramachandran (Ấn Độ) và khoảng 300.000 người Trung Quốc đang sinh sống rải rác khắp nơi ở Campuchia. Đây hầu hết là lao động Trung Quốc tìm cách ở lại khu vực bản địa sau khi hết hợp đồng với các dự án. Họ thậm chí hình thành nên các khu "phố Tàu" như ở Mandalay (Myanmar) hay Viêng Chăn (Lào).

Tại Lào, một doanh nghiệp Trung Quốc đã thuê cả một thị trấn nằm sát biên giới hai nước và biến nơi đây gần như thành khu vực của riêng người Trung Quốc. Thị trấn rộng 21 km2 được đặt tên là Bò Thèn này có ngôn ngữ chính là tiếng Trung, thanh toán bằng nhân dân tệ và sử dụng giờ Bắc Kinh thay vì giờ Viêng Chăn. Hệ thống điện, viễn thông và ngay cả các lực lượng chức năng như công an cũng đều được “kéo” từ Trung Quốc sang. Lực lượng hải quan đã dời từ biên giới Lào-Trung xuống phía nam của thị trấn này. (Trung Quốc tăng cường di dân sang Lào, website nghiencuubiendong.vn, Học viện Ngoại giao, 29-3-2010).

Nói đến sự hiện diện của người Trung Quốc ở các khu Hoa kiều và nhiều khu vực có dự án đầu tư ở Việt Nam, Đại tá Quách Hải Lượng nói: “Nếu chấm trên bản đồ Việt Nam những khu vực có người Trung Quốc sinh sống, chúng ta sẽ có một tấm bản đồ da báo”.



Tiếng Anh trên bằng đại học!


Trang Web của GS Ng Văn Tuấn
Thứ bảy, 08 Tháng 9 2012 09:15
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiFURLvAB_ssiEJo5W7dydV9cnt7t1E34ez0-_yP-KrocxTC6-SUGJZB5-hepXcwqab86RXvrNLfcfMbZTJ9ivhwVFRydM-sReZrUywCDpzg_t7rDFOG3oaTgm-MaZYSHtW5rez08G-iE-t/s400/phoibang.jpgĐọc bài này (Mất cơ hội việc tốt vì tiếng Anh trên bằng tốt nghiệp) mới thấy thương sinh viên Việt Nam. Chỉ vì cách viết tiếng Anh không giống ai trên văn bằng mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự nghiệp của một cá nhân. Vấn đề không chỉ là tiếng Anh, mà còn là hội nhập. Cách viết tiếng Anh trên văn bằng của Việt Nam cần nên xem xét lại và sửa đổi sao cho phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

Trước đây, khi có người nêu vấn đề, tôi không hiểu văn bằng “Degree of Associate” là gì, nhưng nay thì tôi hiểu danh xưng văn bằng đó xuất phát từ đâu. Như bài báo này cho biết thì nó xuất phát từ những qui định trong Thông tư 19 của Bộ GD-ĐT. Và, theo tôi thì những qui định này nên xem xét lại. Qui định của Bộ GD-ĐT viết như sau:
Phía dưới dòng chữ “has conferred” tại trang 2 ghi tên văn bằng, bằng tiếng Anh, cụ thể:
Đối với ngành kỹ thuật ghi “THE DEGREE OF ENGINEER”.
Đối với ngành kiến trúc ghi “THE DEGREE OF ARCHITECT”.
Đối với ngành y ghi “THE DEGREE OF DOCTOR OF MEDICINE” hoặc “THE DEGREE OF BACHELOR”.
Đối với ngành dược ghi “THE DEGREE OF PHARMACIST” hoặc “THE DEGREE OF BACHELOR”.
Đối với các ngành khoa học cơ bản, sư phạm, luật, kinh tế ghi “THE DEGREE OF BACHELOR”.
Đối với các ngành còn lại ghi “THE DEGREE OF BACHELOR”.
(Trích Thông tư số 19 của Bộ GD-ĐT về mẫu bằng tốt nghiệp ĐH)

Cách viết văn bằng như qui định trên đây có thể tóm tắt theo công thức: DEGREE + danh xưng nghề nghiệp. Cách viết như thế thể hiện sự lẫn lộn về danh xưng nghề nghiệp và văn bằng. Những danh từ như engineer (kĩ sư), architect(kiến trúc sư), pharmacist (dược sĩ) là danh xưng nghề nghiệp. Nhưng bachelor thì không phải là danh xưng nghề nghiệp mà là một văn bằng cử nhân. (Dĩ nhiên, chữ bachelor trong tiếg Anh còn có nghĩa là người độc thân, nhưng chúng ta sẽ không bàn ở đây). Còn doctor of medicine thì là một văn bằng hẳn hoi (M.D).
Thông thường cách viết tên văn bằng của các đại học trên thế giới (ngoại trừ Việt Nam) thì theo công thức Học vị + Chương trình học. Học vị ở đây có nghĩa tiếng Anh là Award. Những danh vị như Bachelor (cử nhân), Master (cao học), Doctor (tiến sĩ) là award. Chương trình học là danh từ chung để chỉ những ngành như khoa học (science), kĩ thuật (engineering), y học (medicine), v.v… Thỉnh thoảng có trường còn thêm ngành học (major) trong văn bằng. Chẳng hạn như văn bằng là Bachelor of Science, nhưng ngành học có thể là vật lí, toán, sinh học, v.v. Hiếm thấy trường nào (hay có mà tôi không biết) viết theo công thức của Việt Nam.
Có lẽ cũng cần bàn qua chữ degree trong văn phong khoa bảng. Trong văn nói hàng ngày hay văn viết không trịnh trọng (informal), chúng ta thường nói hay viết he has a degree in biology có thể hiểu rằng ông ấy có một văn bằng về sinh học. Chữ degree ở đây được hiểu là cấp cử nhân trở lên, vì người có bằng diploma hay certificate thì không thể xem là có degree được. Degree không nói cụ thể ông ấy có văn bằng cấp cử nhân, cao học, hay tiến sĩ. Degreethường dùng trong văn nói, chứ ít khi nào (có nhưng ít) trong văn bằng mang tính pháp lí. Do đó:
  • khi viết “DEGREE OF BACHELOR” (như cách viết của Bộ GD-ĐT) là thiếu. Thiếu là vì người ta không biết bachelor về ngành gì;
  • khi viết “THE DEGREE OF PHARMACIST”, “DEGREE OF ARCHITECT” (cũng là cách viết của Bộ GD-ĐT) thì không có ý nghĩa gì cả!
  • khi viết “THE DEGREE OF DOCTOR OF MEDICINE” thì thể hiện một nhầm lẫn lớn. Ở Mĩ, Doctor of Medicine là một học vị sau đại học, không thể xem tương đương với cử nhân được. Ở Úc và Anh, Doctor of Medicine cũng là một bằng sau đại học.

Nói chung, cách viết của Bộ còn thiếu nhất quán. Nếu viết Degree of Pharmacist, thì người ta phải hỏi tại sao không viết “Degree of Biologist”, “Degree of Economist”, “Degree of Lawyer”, v.v. mà lại viết chung là “Degree of Bachelor”?!
Vấn đề kế đến là tiếng Anh chưa ổn. Chẳng hạn như cụm từ “The President of Saigon Technology University has conferred THE DEGREE OF ENGINEER Upon Mr. Bui Tu San” là không chuẩn. Đây là cách viết rất Việt Nam, vì sau động từ confer là tên bằng cấp rồi mới đến tên cá nhân. Cách viết tiếng Anh đúng phải là cá nhân trước rồi mới đến tên bằng cấp [cấp cho ông ABC văn bằng cử nhân XYZ, chứ không phải cấp bằng cử nhân XYZ cho ông ABC]. Thứ hai là một cá nhân hiệu trưởng thì không cấp bằng được, mà phải là hội đồng hay một cơ chế tương tự mới cấp bằng cho thí sinh. Đáng lẽ nên viết là:
THE SAIGON UNIVERSITY OF TECHNOLOGY
By authority of the University Council
has conferred upon

BUI TU SAN
The Degree of
BACHELOR OF SCIENCE

(và những dòng chữ mang tính pháp lí)

Ở Úc thì các đại học có cách viết trang trọng như sau (ví dụ):

THE UNIVERSITY OF SYDNEY
By authority of the Council

THU NGOC TRAN
has this day been admitted to the degree of
BACHELOR OF SCIENCE
and to all the privileges attached thereto.
The Common Seal of the University has been hereto affixed
This twentyfifth day of September 2008


Tóm lại, vấn đề bài báo nêu lên rất đáng quan tâm. Tôi nghĩ Bộ GD-ĐT nên xem xét kĩ và tham khảo cách viết tiếng Anh trên văn bằng ở nước ngoài để có một chuẩn phù hợp với qui ước quốc tế hơn. Không nên viết phôi bằng theo công thức "Degree + tên nghề nghiệp", mà nên viết theo công thức "Học vị + Chương trình học" như thông lệ quốc tế. Cũng nên chỉnh sửa tiếng Anh cho đúng chuẩn mực hơn. Không nên vì bảo thủ mà gây ảnh hưởng đến sự nghiệp và việc học của nhiều cá nhân, hay thậm chí một cá nhân.
NVT
TB 1. Có bạn chỉ ra rằng cách viết "confer sth on/upon sb như  The Queen conferred knighthoods on several distinguished men" cũng ok. Tôi đồng ý.
Một ý kiến khác là "The Saigon University of Technology" thì không cần "The". Tôi cũng đồng ý luôn. Nhưng có khi tôi thấy trong công văn của ĐH Oxford họ viết là "The Oxford University" mà không là "The University of Oxford". Tôi có một bài bàn về chuyện này ở đây.
TB 2. Sau đây là trích vài trao đổi giữa những người am hiểu về văn bằng để các bạn tham khảo thêm:
HDT:
Vâng, ở Pháp có văn bằng tốt nghiệp gọi là Diplome d'ingénieur, ngày xưa dịch sang tiếng Anh là Diploma of engineering (viết tắt là Dipl.-Ing. hoặc DI), bây giờ thì để thống nhất tên gọi (vì số năm học tương đương) người ta dịch là Master’s Degree in Engineering, sau đó nếu cần thì thêm thông tin về ngành nghề chuyên môn sau.
Sở dĩ ông cục trưởng này dịch sai là vì bằng này không có trong các nước nói tiếng Anh (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/87526/mat-co-hoi-viec-tot-vi-tieng-anh-tren-bang-tot-nghiep.html), và ông ta không biết người ta dịch là gì nên dịch sai thôi. Căn bản nói về hai hệ đào tạo "kỹ sư" và "tổng hợp" là đúng, vì VN chị ảnh hưởng của Pháp, mà Pháp thì có hai loại hình đào tạo khác nhau này. Trước 75 cả hai miền Nam bắc đều có hai loại trường "đại học  và "trường kỹ sư", thí dụ như Bách Khoa Phú Thọ hay Bách Khoa Hà Nội.
NĐH:
Kỹ sư là một bằng cấp đàng hoàng đã có mặt lâu cả mấy thế kỷ rồi tại nhiều nước Châu Âu (không thuộc chi phái Anglo-saxon), như Pháp (mà anh Tuấn vừa giài thích), Bỉ , Thụy Sỹ, các nước Đông Âu như Tiệp, Hung, Ba Lan ... Tại Bỉ phải thi tuyển vào các lớp kỹ sư (Etudes d'ingénieur) học 5 năm làm luận văn ra trường là tốt nghiệp bằng kỹ sư. Kỹ sư là một ngạch có chế độ lương hẳn hoi, cao hơn cử nhân học chí có 4 năm mà chẳng cần phải qua thi tuyển (Cử nhân toán, vật lý, sinh học) như kỹ sư điện, xây dựng, hóa học, cơ khí. Sau này có thêm kỹ sư vật lý, toán ứng dụng. Còn tiến sỹ thì không phải là một ngạch không có chế độ lương tuy kỹ sư phải thêm 3 năm mới có bằng tiến sỹ khoa học ứng dụng (docteur des sciences appliquées). Bên Pháp kỹ sư grandes écoles cũng phải 5 năm, hai năm Math. (sup. rồi spéc.) rồi thi tuyển vào grandes écoles học thêm 3 năm thì có bằng kỹ sư chẳng hạn cầu đường, công chánh. Tại Việt Nam ta hiện nay cũng có bằng kỹ sư, tiếp thu truyền thống của Pháp và Đông Âu, nhưng chỉ học 4,5 năm thôi. Hiện nay tại Việt nam không có bằng cử nhận xây dựng, chỉ có kỹ sư xây dựng.
Tại Châu Âu 20 nước sau hiệp ước Bolonia (2001), tất cả các nước thay đổi theo chế độ Anglo-saxon (và sẽ phải thực hiện cho đến 2010 là phải xong): 3 năm: Bachelor (cử nhân), +2 năm: Master +3: Ph.D.  Tại Bỉ cải cách được áp dụng rất nhanh. Qua năm 2006 thì toàn bộ các ĐH Bỉ đổi qua chế độ mới mà các bạn ở Úc hay Mỹ quen thuộc... Pháp bảo thủ hơn, đi chậm hơn nhất là các grandes écoles.. Tuy nhiên theo chỗ tôi biết thì nay hầu hết các ĐH đã hoàn thành ngả qua chế độ mới. Tại VN, tôi đã cố vận động cải cách theo hiệp ước Bolonia cho phù hớp với thế giới nhưng hoàn toàn thất bại cho đến này nay.
(Vĩnh Thuận - Ngọc hà - 18/9/2012)

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

TOÁN HỌC LÀ GÌ?



Oevermann và Frimmer
(Tạp chí Tia Sáng - 11/9/2012)

Một cách nôm na, khi nói về các ngành khoa học, người ta thường tóm gọn như sau: Luật sư làm việc với các điều luật, nhà phê bình văn học thảo luận về các quyển sách, bác sỹ nghiên cứu các loại bệnh tật. Với nhà toán học, người ta nói đơn giản: Ông ta tính toán. Nhưng thực sự việc “tính toán” đó diễn ra như thế nào. Chúng tôi hỏi GS Nagel:



Hỏi: Thưa Ông Nagel, ông có thể làm ơn, một cách hình thức và trong khoảng năm câu, giải thích cho chúng tôi, một cách cốt lõi, toán học là gì?

GS. Nagel: Không thể! Với toán học, không thể có cái gọi là cốt lõi. Bên trong toán học và giữa các nhà toán học có một sự khác biệt lớn. Một mặt, người ta có thể sử dụng toán học để giải quyết những vấn đề thực sự mang tính ứng dụng, và mặt khác, có những nhà toán học quan tâm đến những vấn đề nền tảng mang tính tự thân của toán học và do đó (nhiều lúc là cần phải) không để ý gì đến các vấn đề ứng dụng. Vì thế, về mặt này, người ta có thể xem toán học như là một “hoạt động thuần túy tinh thần của con người” (pour l’hounneur de l’esprit humain) và có một thực tế rằng, những bài toán khó khăn đối với tư duy con người có thể được giải quyết trong những giây phút thăng hoa của tinh thần. Việc đó đã diễn ra 2500 năm rồi, từ xa xưa, những người Hy lạp cổ đại đã đặt ra và giải quyết những vấn đề trừu tượng của toán học.

Làm sao người ta có thể tìm được những lời giải như vậy? Ông có thể giải thích cho chúng tôi thông qua quá trình làm việc của chính ông được không?


Tôi đã giải quyết nhiều vấn đề mà thậm chí không dùng đến giấy bút hay máy tính, đơn giản là chỉ dùng đầu óc của mình. Đôi khi, khi tôi nằm trên giường và không ngủ được, thì tôi nghĩ về một bài toán khó. Do đó, tôi cho rằng, nhà toán học có thể làm việc ở bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào – nhưng mà không bắt buộc! Tôi không cần đến phòng thí nghiệm hay là phương tiện hiện đại nào, mà trái lại tôi thường nẩy sinh ra ý tưởng khi đang đạp xe hay đang chạy thể dục. Tất nhiên, sau đó, thỉng thoảng người ta phải kiểm tra lại các ý tưởng bằng các tính toán cụ thể bằng giấy và bút chì. Để tôi kể cho các bạn nghe câu chuyện hài hước: Felix Klein, nhà toán học có tiếng của thể kỷ 19, một lần bị hỏi xoáy bởi một nhà hóa học rằng: “Tôi thấy ngài suốt ngày ngồi ở quán cà phê, thế khi nào thì ngài làm việc?” Klein trả lời: “Ngài biết không, toán học khó đến nỗi người ta chỉ có thể làm việc với nó nửa giờ trong một ngày”. Tất nhiên, đó là câu chuyện tếu, nhưng nó cho thấy rằng, so với một nhà hóa học, người luôn phải gắn với phòng thí nghiệm, thì nhà toán học tự do hơn và không phục thuộc nhiều vào thiết bị xung quanh khi tiến hành công việc của mình.

Ngày nay, những vấn đề mới của Toán học nảy sinh từ đâu?

Một mặt, những vấn đề mới nảy sinh ngay trong bản thân Toán học. Khi mà phạm vi toán học được mở rộng thì càng nhiều vấn đề mới nẩy sinh. Mặt khác, các vấn đề mới của Toán nảy sinh ngay trong xã hội của chúng ta: có những ví dụ quan trọng về mô hình toán học của sự khủng hoảng tài chính. Một số nhà toán học đã đoạt giải Nobel về kinh tế. Những lĩnh vực khác có sự tham gia của Toán học là: Nén dữ liệu, bảo mật dữ liệu, thiết kế mạng tối ưu, và nhiều thứ khác nữa.

Câu hỏi sau đây có thể làm ông bực mình hoặc cảm thấy buồn tẻ: Có những bài toán lớn trải qua hàng trăm năm không có lời giải. Làm sao mà người ta lại có cảm hứng để theo đuổi những bài toán như vậy năm này qua năm khác?

Bản thân tôi không làm việc với những bài toán thế kỷ như vậy. Chúng nằm trong một giải đấu (Liga) khác. Tôi nghiên cứu những bài toán khó đối với tôi. Nó giống như là tập thể thao, tôi phải luyện tập rất nhiều, và khi đạt đến mục tiêu thì tôi có thể thở phào nhẹ nhõm. Đó là một cảm giác tuyệt vời. Trên tất cả, việc tìm thấy một lời giải luôn là nguồn cảm hứng cho sự cố gắng không ngừng. Đến lúc đó, tôi có thể viết ra trên bảng: phép chứng minh, sự chính xác, và thế là xong. Đối với toán học, không có cái gọi là “định đề” hay “phản đề” như trong môn thần học. Trái lại, luôn có một sự tách bạch rõ ràng giữa đúng và sai. Một định lý, một khi đã được chứng minh là đúng đắn, thì cho dù hàng trăm năm trôi qua, có thể nó không còn thích hợp với thời cuộc nữa, nhưng nó vẫn luôn đúng đắn.

Điều đó nghe có vẻ rất hài hòa. Chẳng lẽ không có sự cãi cọ hay xung đột hàn lâm giữa các công trình toán học? Phải chăng tất cả các nhà toán học là bạn tốt của nhau?

Về chuyên môn thì đúng là như vậy! Những kết quả của Euclid, Pascal hay Newton bây giờ vẫn còn đúng giống như nó đã từng đúng trước đây. Chúng tôi không để ý đến những sự nhập nhằng giữa đúng và sai, giữa sự quan trọng hay không quan trọng, giữa đẹp và xấu. Có lẽ đó là sự thiếu hụt của toán học và của các nhà toán học, chúng tôi thiếu đi một văn hóa tranh luận mang tính triết học. Tuy nhiên, chúng tôi hiển nhiên cũng có những thảo luận mang hơi hướng triết học chẳng hạn: thế nào là một phép chứng minh, thế nào là tiên đề, thế nào là “đúng”.

Đại học Tuebingen đã quyết định tích hợp toán và các khoa học tự nhiên để lập nên một khoa rất tổng quát gọi là Khoa “Toán và Khoa học Tự nhiên”. Về mặt nguyên lý, Toán học đóng vai trò như thế nào đối với các khoa học tự nhiên khác?


Trong các khoa học tự nhiên, người ta nghiên cứu “Cuốn sách của tự nhiên” . Và cuốn sách này, theo Galileo, được viết dưới ngôn ngữ toán học. Đó là một triết lý đẹp đẽ về quan hệ giữa toán và các khoa học tự nhiên. Việc thành lập Khoa “Toán và Khoa học Tự nhiên” này cũng chẳng phải là quyết định đặc biệt gì của Trường Tuebingen, chẳng qua Trường đã tuân theo một truyền thống lâu đời. Mặt khác, toán học có những khía cạnh chẳng liên quan gì đến khoa học tự nhiên cả, ví dụ như những ứng dụng của nó trong khoa học xã hội, kinh tế hay là trong tin học. Tất nhiên, trong sâu thẳm lý thuyết của nó (cái làm nền tảng cho tất cả ứng dụng khác), toán học đóng một vai trò là một cấu trúc của tinh thần không cần tham chiếu đến tự nhiên hay các định chế khác.

Người ngoại đạo luôn nhìn thấy ở Toán học những cấu trúc có quá ít ứng dụng và xem đó đơn thuần chỉ là “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Vì thế, nảy sinh câu hỏi: Phải chăng toán học chỉ có thể thỏa mãn đòi hỏi về mặt bản ngã của một số ít trí thức chứ nó không thể sáng tạo ra những giá trị đa dạng thích hợp đối với xã hội?

Sự sáng tạo ra những “giá trị đa dạng thích hợp đối với xã hội” không nên và không thể là mục đích duy nhất của những hoạt động của con người. Xã hội chúng ta cần phải bổ sung thêm những sáng tạo không bị những ép buộc và kích thích mang tính vật chất. Người ta không nên cứ luôn hỏi: “Ứng dụng cuối cùng của mớ lý thuyết đó là gì?”. Trên cương vị của một giảng viên đại học, nguyên tắc của tôi là luôn để cho các sinh viên của tôi có tinh thần tự do trong suy nghĩ và trong công việc. Những bài toán khó sẽ được giải quyết tùy theo thời gian và sự cố gắng. Đó là một trong những triết lý giáo dục của tôi. Cái thực tế rằng sau khi có được những suy nghĩ trừu tượng người ta có thể quay trở lại với những giá trị đa dạng thích hợp với xã hội, chính là một khía cạnh quyến rũ rất đặc biệt của Toán học.

Có thể xem các nhà toán học như là các nhà khám phá được không? Phải chăng bản thân tự nhiên tự nó đã tạo sẵn những lý thuyết rồi và các nhà toán học chỉ việc chuyển nó sang những khuôn dạng hữu hình và chính xác?

Đó là một câu hỏi cổ điển, từ thời Platon xa xưa, các đối tượng của toán học đã có sẵn trong “thế giới lý tưởng” của ông ta. Phần lớn các nhà toán học thuần túy lý thuyết đều “vô tình” thuộc vào trường phái Platon, với họ thì những đối tượng trừu tượng của toán học đã tồn tại từ trước, và họ chỉ phải khám phá chúng ra mà thôi. Tuy nhiên, đây là vấn đề luôn gây tranh cãi. Người ta cũng cho rằng những đối tượng đó chỉ có thể tồn tại thông qua những cách xây dựng cụ thể và quá trình tính toán cụ thể.

Về mặt cá nhân, tại sao ông lại luôn có hứng thú với toán học?

Nguồn gây cảm hứng cho tôi chính là sự đẹp đẽ và sự rõ ràng của lý thuyết thuần túy. Thật là kỳ diệu khi chứng kiến những mục đích mà tinh thần con người có thể dẫn chúng ta đến. Mặt khác, toán học là sự trừu tượng hóa chung cho các ngành khoa học đang diễn tiến riêng rẽ trong thế giới xung quanh ta. Do vậy, những nhà toán học luôn dễ dàng trong việc tiếp cận văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo khác nhau trên toàn cầu. Đó chính là một trải nghiệm đẹp đẽ trong một thế giới toàn cầu hóa vẫn còn nhiều xung đột và hiểu nhầm như hiện nay.
Xin cảm ơn ông Nagel về cuộc nói chuyện này!

GS Rainer Nagel là giáo sư phụ trách môn Giải tích hàm ở trường Đại học Tuebingen, CHLB Đức.
Ông đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ sinh viên và các nhà toán học của Việt Nam cũng như đã gửi rất nhiều tài liệu quý giá cho các học giả ở Việt Nam.

Nguyễn Thiệu Huy dịch
Nguồn: http://www.fa.uni-tuebingen.de/members/rana/RN_interview.pdf

(Vĩnh Thuận - Ngọc Hà - 11/9/2012 - 23h30 - ngày giỗ cụ bà Ngũ 26/7 âm)

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

ĐI CHƠI BÁCH THẢO ngày 3-9

Ngày 3-9-2012, trời nắng đẹp, gió mát tiết thu, Bách Thảo ngập tràn trẻ em đi chơi. Bảo Linh hòa vào dòng các bạn cùng bố mẹ tung tăng trong công viên. Lát sau, anh Kiên được cậu Quang đưa ra chơi cầu lông, rồi Bà Mến ra cho Linh leo núi Nùng.

Ông ngoại chụp vài ảnh ghi nét nắng vàng cùng cây xanh làm nền cho các cháu thiếu nhi, chủ nhân tương lai của đất nước. Công nhận con máy Nikon 16 chấm chụp cảnh ngoài trời tốt thật, đáng bát gạo đồng tiền, mà vẫn nhỏ gọn mang đi du lịch.

Ở Bách Thảo có 1 góc đặt các tác phẩm của Liên hoan quốc tế các nhà tạo hình - họa sĩ. Các cháu Kiên Linh hay ra chơi khu vực này và gọi 1 tác phẩm là "trứng Khủng Long". Cháu Bảo Linh trèo lên Trứng Khủng Long:


Bảo Linh nằm che mắt không cho ông ngoại chụp ảnh:

Phía xa có 1 bức tượng đá trắng ("Suối nguồn") mà khi còn sống, cụ Sinh đã cùng các cụ trong CLB Thơ Ngọc Hà vịnh bức tượng này:


Một cháu gái váy hồng tung tăng chơi trong công viên:

Hai cậu cháu chơi cầu lông:


Cậu và Kiên Linh ở gần chuồng khỉ:

Bà cho Linh ăn viên phô mai bò cười

(Vĩnh Thuận - 3/9/2012 - 17h30 - Ngọc hà)